Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124

Quan Lớn Đệ Tam hay còn gọi là Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ. Đền thờ chính của Quan Lớn Đệ Tam là Đền Lảnh Giang, Đền Xích Đằng.
Theo truyền thuyết kể lại thì trong một trận đánh, ông đã bị chết trận, xác ông bị chém làm đôi rồi ném trôi sông, phần đầu trôi dạt vào bãi sông thuộc làng Xích Đằng (phường Lam Sơn, Thành phố Hưng Yên), dân làng đã lập đền thờ tưởng nhớ ông. Còn phần thân dạt vào ven sông thuộc thôn Yên Lạc (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), cũng được dân làng chôn cất và lập đền thờ tưởng nhớ, đó là đền Lảnh Giang.
Quan Lớn Đệ Tam vốn là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình, là người rất được vua cha yêu quý nên giao quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương. Dưới thời Hùng Vương, theo lệnh vua cha, ông cùng hai người em (có sách nói là hai người thân cận) lên giúp Vua Hùng chỉ huy thuỷ binh, lúc này ba vị giáng ở đất Hà Nam, được nhân dân tôn thành “Tam Vị Đại Vương”, trong đó, Quan Đệ Tam là người anh cả trong ba người.
Nhưng lại có điển tích nói rằng, chỉ có một mình Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Sau đó trong một trận quyết chiến, ông hy sinh (phần thượng thân (đầu) và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu). Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan. Vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng.
Căn cứ tài liệu \” Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” đang được lưu giữ tại Đền Lảnh Giang thì huyền tích về Quan lớn Đệ tam tóm tắt như sau:
Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, nhưng không có con.
Một đêm, vợ ông là bà Trần Thị Ngoạn đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái mồ côi đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý. Vài năm sau, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.
Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. . Từ hôm đó nàng Quý mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở Trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao” Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông. Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.
Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:
Sinh là tướng, hóa là thần
Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời
Khi nào giặc dã khắp nơi
Bọn ta mới trở thành người thế gian
Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Bát Hải Long Vương và Nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông.
Bấy giờ Thục Phán có ý định cướp ngôi vua Hùng Duệ Vương. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc đánh vào kinh đô. Duệ Vương bèn lập đàn cầu đảo. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, quân Thục đều bị tiêu diệt.
Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.
Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.
Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7.
Quan Lớn Đệ Tam ngoài hai đền chính là Xích Đằng và Lảnh Giang còn được thờ vọng ở khá nhiều nơi: Đền Cửa Đông tại thành phố Lạng Sơn, Đền Lâm Du thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội và Đền Tam Kì thuộc thành phố Hải Phòng, đền Quan Lớn – Phủ Dầy……
Toàn bộ ngôi đền được xây dựng trên một khu đất rộng, kiến trúc nếp nhà cao, thoáng đãng, tăng thêm vẻ hoành tráng cho ngôi đền.
Tam quan được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái là khoảng sân đền có đặt đôi rùa đá và đôi nghê đá ngày đêm canh gác cho sự uy linh của ngôi đền. Cung thứ nhất là ban công đồng các quan, tiếp đến là cung Tam tòa Thánh mẫu, cung thứ ba thờ Quan Lớn Đệ Tam, cuối cùng là cung cấm đặt tượng của Ngài được đúc bằng đồng. Ngoài các ban thờ chính còn có các ban thờ khác: Ban chúa Sơn Trang, ban Vương ông nhà Trần, ban thờ ông Hoàng Mười, Hoàng Bảy…
Trong đền có rất nhiều hiện vật giá trị: Hai quả chuông đồng, hệ thống các bức đại tự, câu đối được sơn son thiếp vàng ca ngợi công đức của Ngài với dân với nước. Trong khuôn viên ngôi đền còn có cây cổ thụ là sự hợp thân, quấn quýt lấy nhau của năm loại cây: Đa, Sung, Khế, Cọ, cây lá nón bao trùm lên mái ngôi đền, tỏa bóng râm mát.
Đền Lảnh Giang còn có tên gọi là Lảnh Giang linh từ, tọa lạc tại thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên. Đền thờ Tam vị danh thần là ba anh em Quan Lớn Đệ Tam và thờ Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử
Đây là một công trình kiến trúc đồ sộ, uy linh. Tam quan xây theo kiểu chồng diêm tám mái, các đầu đao cong vút thanh thoát hình đầu rồng đắp nổi, đan xen mặt nguyệt, lá lật cách điệu mềm mại. Phía trước Tam quan là hồ bán nguyệt, nước hồ phẳng lặng như bàn ngọc thạch bày lên những đóa hoa súng đỏ tươi. Giũa hồ, ngọn bảo tháp đứng trầm mặc được nối với cửa đền bằng chiếc cầu cong tạc hình lưỡi long hướng địa, ẩn hiện dưới bóng cây si già hàng ngàn năm tuổi.
Đền Lảnh Giang được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc gồm 3 tòa, 14 gian, hai bên có nhà khách, lầu thờ, 4 bên có tường gạch bao quanh. Trong đền có nhiều đồ thờ giá trị như tượng Tiên Dung công chúa, khánh long đình, khám đặt tượng thờ 3 vị tướng thời Hùng vương được chạm khắc công phu theo phong cách đời Lê. Ngoài ra đền còn giữ được hai kiệu bát cống long đình, một sập thờ và nhiều hoành phi, câu đối, nhang án.
Đến Đền Lảnh Giang chúng ta có thể đến chiêm ngưỡng đền thờ Cô Bơ Thoải Phủ ngay bên Đền Lảnh Giang. Xung quanh đền Lảnh Giang còn có Đền Đức Vua Cha thờ vua Lê; Đền thờ Ngọc Hoa Công chúa, em gái của Tiên Dung Công Chúa; đền thờ Trần Khánh Dư, một vị tướng của Trần Hưng Đạo.
Ngày tiệc của Quan Lớn Đệ Tam là ngày 24/6 âm lịch (tương truyền là ngày đản nhật giáng sinh của ông).
Posted on by Oản Cô Tâm
“Trăm nghìn, trăm cảnh không bằng bến Lảnh đền Mây”
Hà Nam là mảnh đất nổi tiếng với nhiều địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng, đặc biệt là các ngôi chùa, đền đài. Trong đó, không thể bỏ qua danh lam thắng cảnh đền Lảnh Giang.
NỘI DUNG [ẩn]
Đền Lảnh Giang hay còn có tên gọi là đền Lảnh hoặc Lảnh Giang linh từ tọa lạc tại địa phận thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Đây là một trong những điểm dừng chân tâm linh không thể bỏ qua bởi nét đẹp kiến trúc đền cổ hàng trăm năm tuổi linh thiêng, bí ẩn.
Theo người dân địa phương, vẫn chưa xác định được chính xác thời gian xây dựng đền Lảnh Giang Hà Nam. Dựa vào những kí tự Hán được khắc trên cây nóc ở đền thì đền được trùng tu lần cuối cùng vào niên hiệu Bảo Đại năm thứ 18 (1944). Trải qua nhiều biến cố thời gian, di tích đền từng bị tàn phá nặng nề. Được sự quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo của chính quyền địa phương cùng bách gia trăm họ công đức, đền đã được tu sửa, tôn tạo trở thành khu di tích quy mô, bề thế nhưng không mất đi dáng vẻ xưa của ngôi đền.
Năm 1996, ngôi đền được bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
Đền Lảnh Giang hiện là nơi thờ tự Quan Lớn Đệ Tam và hệ thống các vị thần linh Tứ Phủ. Trong đó, ngôi đền nổi danh tứ phương là nơi thờ Tam vị tướng đời Hùng Vương – tương truyền là con của nàng Quý và Bát Hải Long Vương. Họ đã có công giúp vua Hùng chống lại quân giặc Thục Phán nên được vua Hùng ban phong vị. Đền Lảnh Giang là nơi tưởng nhớ công ơn của các vị thần đã có công giúp vua Hùng giữ nước.
Xem thêm: Thần tích hiển hách về Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ
Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, nhưng không có con.
Một đêm, vợ ông là bà Trần Thị Ngoạn đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái mồ côi đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý. Vài năm sau, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.
Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. Từ hôm đó nàng Quý mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở Trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao” Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông. Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.
Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:
Sinh là tướng, hóa là thần
Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời
Khi nào giặc dã khắp nơi
Bọn ta mới trở thành người thế gian
Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Bát Hải Long Vương và Nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông.
Bấy giờ Thục Phán có ý định cướp ngôi vua Hùng Duệ Vương. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc đánh vào kinh đô. Duệ Vương bèn lập đàn cầu đảo. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, quân Thục đều bị tiêu diệt.
Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.
Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.
Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7. Ngôi đền Lảnh Giang Hà Nam thờ ông cùng 2 anh em rắn còn lại.
Xem thêm: Thần tích Quan Đệ Tam và 2 ngôi đền thờ Ngài
Cùng trên mảnh đất thiêng này có câu chuyện về mối tình Tiên Dung, Chử Đồng Tử từ ngàn xưa còn vọng đến hôm nay. Thần tích lưu truyền rằng, ở thôn Đằng Châu có một nhà nghèo gặp cơn hỏa hoạn. Hai cha con chỉ còn một manh khố ngắn dùng chung để khi có việc ra ngoài. Lúc người cha qua đời, Chử Đồng Tử đã dành chiếc khố cuối cùng khâm liệm cha. Từ đó, ngày ngày chàng thường phải ngâm mình dưới nước.
Một hôm, Tiên Dung con gái vua Hùng đi du ngoạn, cảm nhận cảnh sông nước nên thơ, công chúa cho dừng thuyền lại bên bãi cát. Chử Đồng Tử đang mò cá dưới sông, nhìn thấy thuyền rồng, cờ rong lọng tía mà kinh sợ, vội vàng vùi mình dưới cát. Ngay lúc đó Tiên Dung sai các thị nữ quây màn để tắm đúng vào nơi mà Chử Đồng Tử ẩn nấp. Nước xối từ trên người nàng, trôi dần cát ở dưới chân, lộ Chử Đồng Tử trong màn quây. Sau giây phút ngỡ ngàng, cả hai người cho là duyên trời đã định, cùng nhau về triều xin phép vua cha cho kết duyên thành vợ chồng. Chử Đồng Tử, Tiên Dung đã về trời nhưng tình yêu, lòng hiếu thảo còn ở lại mãi với trần gian.
Trần Danh Lâm (1705-1777) khi về thăm Lảnh Giang đã có bài thơ:
“Con gái vua Hùng, tướng vua Hùng
Đền này truyền việc lại nhà thờ chung
Sự nghiệp nhân duyên thì rất đẹp
Tình đời chẳng đẹp đáng thau không”
Dừng chân tại cổng đền, ta sẽ thấy tòa tam quan được xây theo kiểu chồng diêm tám mái đặc trưng của đền chùa Việt Nam. Nổi bật nhất là các đầu đao cong vút theo hình đầu rồng đắp nổi, đan xen mặt nguyệt, lá lật cách điệu mềm mại. Từ đây nhìn hướng ra là dòng sông Nhị Hà hay Sông Hồng.






Đền Lảnh Giang được xây dựng theo thiết kế nội công ngoại quốc bao. Cung chính thờ Quan đệ Tam và Tứ Phủ Công Đồng. Hai bên là gian nhà khách, động Sơn Trang, cung Mẫu, lầu thờ. Bên ngoài khuôn viên đền Lảnh Giang là đền Cô Bơ Tam Giang. Tổng diện tích đền vào khoảng 3.000 m2.
Từ cửa đền cung thờ chính, ta sẽ đến với ban Tứ Phủ Ông Hoàng – ban Tứ Phủ Công Đồng và ban Trần Triều. Tiến vào sâu bên trong là ban Tam Phủ.

Gian trong cùng chính là ban thờ Ông Hoàng Bảy – Quan Đệ Tam và Ông Hoàng Mười.



Bên trái cung thờ chính ta là khu vực cung Mẫu và động Sơn Trang. Cung Mẫu thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, Chầu Bơ và Cô Bơ.







Ngay trước khuôn viên đền là chiếc hồ lớn, đi về phía này khoảng 200m ta sẽ tới khu vực cung thờ Cô Bơ Tam Giang.







Ban thờ Cô Bơ Tam Giang nằm ở gian trong
Đến với di tích đền Lảnh Giang Hà Nam, con hương có thể đến tham quan vãn cảnh các đền thờ xung quanh như Đền Đức Vua Cha thờ vua Lê; Đền thờ Ngọc Hoa Công chúa – em gái của Tiên Dung Công Chúa; đền thờ Trần Khánh Dư, vị tướng tài giỏi của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người đã có công đánh giặc Nguyên Mông trên chiến tuyến Vân Đồn (Quảng Ninh).
Từ thị trấn Đồng Văn (Duy Tiên), theo quốc lộ 60A đi 8km đến ngã ba thị trấn Hòa Mạc, rẽ trái đi tiếp khoảng 5km đến cầu Yên Lệnh, ngược bờ đê sông Hồng 3km là tới đền. Đền nằm sát cạnh chân đê nối với các tỉnh Hà tây cũ, Hà Nội và Nam Định. Phía đối diện của đền là tỉnh Hưng Yên. Du khách có thể di chuyển bằng xe máy hay ô tô đều rất thuận tiện.
Hằng năm, du khách đổ về các đền Lảnh Giang Hà Nam rất đông đúc và nhộn nhịp. Ai ai cũng đều sắm sửa bên mình mâm lễ vật thể hiện lòng thành để dâng bái cửa đền.
Thông thường, các con hương sẽ sắm một mâm lễ chay mặn tùy tâm, không cần sang nhưng cần thành ý. Những vật lễ nên có thường là hoa quả, hương nhang, phẩm oản, cút rượu, xôi gà,…
Với Oản, đây là vật phẩm dâng cúng từ bao đời nay, tuy thành phần đơn giản nhưng lại gói gọn tinh túy đất trời. Ngày nay, các nghệ nhân đã biến hóa sáng tạo những quanh oản nhỏ xinh đơn giản thành những mẫu oản lễ thiết kế độc lạ, thẩm mỹ mà vẫn giữ nguyên phần hồn linh thiêng, với tên gọi là Oản Tài Lộc. Con hương lưu ý nên lựa chọn những mẫu oản trắng dâng nhà Ngài bởi đây là màu đại diện của Ngài khi về đồng.




Mỗi năm, đền tổ chức hai lễ hội, từ ngày 2 đến 5 tháng 6 âm lịch và 20 tháng 8 âm lịch. Đầu tiên nghi thức tế lễ, rước thánh được tổ chức đầu tiên thu hút hàng ngàn khách thăm quan về xem và thành tâm. Ngoài phần lễ còn có phần hội gồm nhiều hoạt động hấp dẫn như: Diễn xướng dân gian hầu Thánh (hát chầu Văn) tái hiện huyền tích vị Thánh đền Lảnh Giang; múa rồng, múa lân, múa sư tử, võ vật, chọi gà, đánh gậy, đấu cờ người, tổ tôm điếm, thi thổi cơm trên quang gánh, diễn tập trận giả, hát chầu văn, thi bơi chải trên sông Hồng…
=================================
======
Posted on by Oản Cô Tâm
Quan Lớn Đệ Tam là vị Quan Ông hay được hầu về đồng với quan niệm cho rằng, ông là vị Quan Lớn tài danh hàng đầu. Nhiều ngôi đền được lập ra để thờ Ông và thu hút nhiều du khách tới tham quan bái yết.
NỘI DUNG [ẩn]
Đệ Tam Tôn Quan là vị Quan Lớn thứ ba trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông. Tên đầy đủ của Ngài là Đệ Tam Thượng thiên hoàng thái tử vương quan với sắc phong Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương thượng đẳng tối linh thần.
Xem thêm: Quan Lớn Đệ Tứ có sự tích giáng trần không? Lưu ý quan trọng khi dâng lễ nhà ngài.
Sự tích về Ngài được lưu truyền rằng, vào thời Hùng Duệ Vương thứ 18, giặc ngoại bang tiến đánh xâm lược nước ta. Các vị tướng giỏi hiền tài cùng thần linh được chiêu mộ giúp Vua dẹp giặc. Khi sứ giả về đến đất Động Đào, dòng nước hai bên bờ sông cuộn sóng hồng âm vang trời. Đức Vua Cha Bát Hải nhờ sứ giả báo vua Hùng sẽ triệu 2 em, 10 tướng, chiêu mộ binh sĩ trong vòng 10 ngày để phò giúp vua. Ba trong 10 vị tướng được chọn là Quan lớn Thượng, Quan đệ Tam và Quan đệ Tứ xuất quân đánh giặc trên 8 cửa biển nước Nam, dưới sự chỉ huy của Vua Cha Bát Hải lúc này hiện thân thành tướng Phạm Vĩnh. Kết quả 5 đạo quân Thục đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
Xem thêm: Vua Cha Bát Hải là ai? Sự tích vị Vua Cha đứng đầu Thủy Phủ linh thiêng.

Sau trận thắng này, Quan Đệ Tam được giao quyền cai quản vùng duyên hải từ sông Cái lên hết biên giới biển phía bắc Lạc Việt. Vào ngày 24/6 tại một trận đánh khác, Ông đã hi sinh tại ngã ba sông Bạch Hạc. Xác ông bị chém làm đôi rồi bị ném xuống sông. Phần đầu trôi về phía sông thuộc địa bàn làng Xích Đằng (Hưng Yên) còn phần mình thì dạt về phía ven bờ sông thôn Yên Lạc (Hà Nam). Nhân dân hai vùng này đã vớt xác ông, chôn cất và lập đền thờ nghiêm cẩn, nay là đền Xích Đằng và đền Lảnh Giang.
Về sau mỗi khi có trận đánh trên sông Bạch Đằng, các vua tướng đều làm lễ cầu tạ tại đền thờ Đức Vua và đền thờ Quan Lớn Đệ Tam. Vì cho rằng Ngài sẽ âm phù mà chiến thắng như những thần tích Quan Lớn Đệ Tam thắng giặc trên vùng sông Bạch Đằng, rồi lại tỵ nhậm cai quản vùng đất này.
Quan niệm cho rằng, ông là vị Quan Lớn tài danh hàng đầu nên khi hầu hàng Quan Lớn Tứ Phủ, người ta rất hay hầu giá Quan Đệ Tam. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, đeo hổ phù, mạng trắng và đai trắng. Sau đó, ông làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp , tay múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta hay thỉnh Ông về chứng đàn Thoải Phủ , bao gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ tất cả đều mang sắc trắng.
Trong tín ngưỡng Tam Tứ Phủ, Quan Lớn Đệ Tam là vị quan thần có vai trò quan trọng trong việc cai quản ‘đầu đồng’, bút phê sớ khảo. Ông được thờ phụng khắp các khu vực sông nước và nổi tiếng nhất vẫn là hai ngôi đền được biết tới là nơi xác ông hóa trôi về.
Đền Xích Đằng hay còn được gọi là đền Quan Lớn, nằm tại địa phận thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn, tỉnh Hưng Yên. Đền được lập để thờ vị Quan Lớn Đệ Tam đã trôi dạt vào nơi đây khi Ngài hóa.
Có một thời gian, vì sự sai lầm của chính sách văn hóa nên ngôi đền bị phá dỡ hoàn toàn. Đến năm 1998, một người dân bản địa đã khôi phục và xây dựng lại ngôi đền khang trang như ngày hôm nay. Ông cũng trở thành thủ nhanh hương khói cho ngôi đền. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều cổ vật quý giá và cả những cây cổ thụ lâu năm linh thiêng. Vào năm 2009, một thầy đã tìm thấy di thể ông Quan đệ Tam tại khuôn viên đền Xích Đằng và cho xây dựng lăng mộ thờ Ngài.
Từ đó, ngôi đền tiếp đón rất nhiều du khách thập phương tới hành hương dâng lễ cũng như cầu mong điều tốt đẹp cho gia khuyến của mình. Nhất là trong những dịp đầu năm hay vào ngày hội của đền được tổ chức vào ngày 24 tháng 6 ÂL (ngày hóa của Quan Đệ Tam), nhân dân khắp mọi miền tổ quốc lại tụ về đền thờ Quan Lớn Đệ Tam làm lễ, công đức rất đông để tưởng nhớ công ơn của Ngài.

Đền Lảnh Giang hay còn có tên gọi là đền Lảnh hoặc Lảnh Giang linh từ tọa lạc tại địa phận thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Từ thị trấn Đồng Văn, theo quốc lộ 60A đi 8km đến ngã ba thị trấn Hòa Mạc, rẽ trái đi 5km đến bến đò Yên Lệnh, ngược bờ đê sông Hồng 3km là tới đền.
Đền thờ này ngoài thờ Quan Đệ Tam còn thờ ba vị danh thần họ Phạm đời Hùng Vương thứ 18 cùng Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử. Các Ngài đều có công công lao phù dân vệ quốc lúc sinh thời và cả khi hiển thánh. Năm 1996, ngôi đền được bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
Đền Lảnh Giang Hà Nam là ngôi đền có kiến trúc quy mô, uy linh bề thế và mang đậm những nét cổ truyền của dân tộc. Ngôi đền này vẫn còn lưu trữ những cổ vật thờ cúng linh thiêng, mang giá trị cao về nghệ thuật.
Ngày hội và tiệc của đền diễn ra vào hai đợt trong năm. Đợt đầu tổ chức vào khoảng thời gian từ ngày 18 đến 25 tháng 6 Âm lịch, dành cho khách thập phương tơi tham quan chiêm bái cửa đền và tìm hiểu về những giá trị tâm linh. Còn đợt sau diễn ra vào tháng 8 Âm lịch chủ yếu dành cho người dân bản địa. Nhiều năm vào dịp lễ hội, nước sông Hồng dâng cao nhưng lòng dân vẫn hướng về đền, vẫn bơi thuyền ra dâng lễ và thực hiện đầy đủ các nghi thức đối với các vị thần linh thờ tại đền.

Ngôi đền cổ nằm tại số 52 Hàng Cót, phố cổ Hà Nội nổi bật giữa tuyến phố với cổng nghi môn sơn vàng cửa đỏ, in chữ Hán Nôm. Đó chính là đền Tam Phủ, nơi linh thiêng thờ Quan Lớn Đệ Tam.
Xem thêm thông tin chi tiết về kinh nghiệm hành hương dâng lễ đền Tam Phủ tại ĐÂY.
Ngoài hai ngôi đên trên, Quan Lớn Đệ Tam còn được nhiều con nhang, đệ tử biết đến là được thờ phụng tại:
=====
======
Trịnh giang biên doành ngân sở bắc
Đôi vầng hồng soi rạng nam minh
Con vua thủy quốc Động Đình
Đệ tam thái tử giáng sinh đền Rồng
Tài gồm vẹn thung dung hòa mặc
Bẩm sinh thành tư chất long nhan
Thỉnh mời thái tử đệ tam
Phi phương diện mạo dung nhan khác thường
Hằng tấu đối thiên đường thủy phủ
Chốn nam minh quy đủ bốn phương
Ra uy chấp chính kỷ cương
Cần cân nảy mực sửa sang cõi đời
Chốn long giai cầm quyền thay chúa
Phép màu quan tối tú tối linh
Lệnh truyền thủy bộ chư dinh
Sửa sang đai giáp chơi miền trần gian
Chiếc thuyền lan nổi dòng Xích Bích
Đua mái chèo du lịch bốn phương
Có phen tuần thú sông Thương
Trở về tỉnh Bắc, Quế Dương, Lục Đầu
Có phen ngự sông Dâu sông Hát
Khi lên ghềnh xuống thác vui chơi
Có phen ra lạch vào khơi
Sai quân lấy gỗ xoan đào chò hoa
Có phen chơi ngã ba tuần hạc
Bạn loan ngồi đàn hát vui chơi
Dạo xem phong cảnh mọi nơi
Qua hang Anh Vũ sang chơi nước người
Có phen chơi cửa đài cửa bích
Khi ra khơi vào lạch thảnh thơi
Thuyền rồng trăm mái chèo chơi
Dọc ngang sông tuần Lảnh là nơi đi về
Trải giang khê lên ngàn xuống biển
Lảnh Giang từ quý địa danh lam
Đền thờ tán tía kiệu vàng
Tả long hữu hổ thạch bàn uy nghi
Hóa tức thì lâu đài điện các
Dâng nước về thủy quốc một khi
Có phen lấy ngọc lưu ly
Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang
Qua đại giang sông Thao, sông Cả
Kéo quân về đóng ngã ba Tranh
Xướng ca đàn hát tập tành
Thi ngâm phú đọc đàn tranh chơi bời
Có phen lại về nơi thủy phủ
Đóng cân đai áo mũ vào tâu
Dăm ba đồng tử theo hầu
Vào tâu Vương phụ ra chầu Mẫu vương
Cũng có phen phi phương biến hóa
Qua Nghệ An thượng hạ đại giang
Thuyền rồng chèo quế buồm lan
Khi chơi Bạch Hạc khi sang sông Cầu
Có phen ngự Nam lâu Bắc điện
Trở ra về đến huyện Thiên Tôn
Dạo miền thác cái thác con
Khi chơi sông Hát khi sang sông Bờ
Dạo thẩn thơ Tản Viên Tam Đảo
Truyền chư quân đôi đạo tiên phong
Chiêng kêu cờ phất trống dong
Bè sau thuyền trước giữa dòng lênh đênh
Trống cầm canh chiêng vang anh ỏi
Lốt xanh vàng chìm nổi dư muôn
Triều thần văn võ bách quan
Sai lên đón rước vương quan về chầu
Trên các lầu thơ ngâm phú đọc
Ngoài sân rồng ca chúc chén thiêng
Vua cha giá ngự ngai vàng
Phán đòi hoàng tử vương quan vào chầu
Ngự giờ lâu phán lời nhân thứ
Sai ông lên cứu trợ trần gian
Một tay hoàng tử vương quan
Cứu sinh cũng lắm độ oan cũng nhiều
Rầy ông đã về chầu nhân đức
Độ nhân gian vạn ức siêu sinh
Ông về tới chốn thủy cung
Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường
=-===================================
=======================================================================================
Đền Lảnh Giang còn có tên gọi là Lảnh Giang linh từ, tọa lạc tại thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên.
Từ thị trấn Đồng Văn, theo quốc lộ 60A đi 8km đến ngã ba thị trấn Hòa Mạc, rẽ trái đi 5km đến bến đò Yên Lệnh, ngược bờ đê sông Hồng 3km là tới đền.
Tam quan đền Lảnh Giang
Theo thần phả, ngôi đền này thờ Tam vị danh thần đời Hùng Vương thứ 18 và Tiên Dung công chúa, Chử Đồng Tử. Tam vị danh thần là 3 con rắn, con của nàng Quý người trang Hoa Giám (nay là xã Yên Lạc) có công giúp vua Hùng Duệ Vương chống lại Thục Phán, được phong là Nhạc Phủ Ngư thượng đẳng thần, sau được gia phong là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng thái thượng đẳng thần. Trên mảnh đất này còn lưu truyền câu chuyện quen thuộc về Tiên Dung và Chử Đồng Tử trong kho tàng truyện kể dân gian Việt Nam.
Đền tọa lạc trong khuôn viên 3.000 m2, nơi đây không có núi đồi, nhưng bạt ngàn màu xanh của cây trái; rừng nhãn, bến nước, đầm sen, phảng phất hào khí của một miền địa linh nhân kiệt, phồn thịnh êm đềm. Cửa đền nhìn ra hướng đông dòng sông Nhị Hà (sông Hồng), bốn mùa mênh mang sóng nước. Từ ngàn đời nay, sông lặng lẽ chở từng hạt phù sa bồi lên miền quê đất bãi. Giữa sông nổi lên một cồn cát, khiến dòng chảy đột ngột chia thành hai nhánh mà vô tình tạo ra ngã ba sông. Phải chăng cái tên Tam Giang, Lảnh Giang được đặt từ đây(?). Phía tây đền (cách 300m), mượt mà mầu xanh non của lúa, bảng lảng khói lam chiều, thấp thoáng đền thở Đức Vua (vua Lê). Giáp xã Mộc Nam về phía bắc Lảnh Giang, thôn Yên Từ, Mộc Bắc trầm mặc ngôi đền thờ Ngọc Hoa công chúa, em gái Tiên Dung. Phía nam giáp làng Nha Xá, đình thờ Trần Khánh Dư, vị tướng tài giỏi của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người đã có công đánh giặc Nguyên Mông trên chiến tuyến Vân Đồn (Quảng Ninh). Theo các cụ cao niên kể lại, có một thời Trần Khánh Dư ngụ tại đình Nha Xá, ông đã mang nghề dệt về cho dân làng. Cảm phục tài cao , đức trọng của ông, nhân dân suy tôn ông là Thành Hoàng làng.
Trong sân đền
Ngôi đền được xây dựng từ bao giờ, đến nay chưa có tài liệu khẳng định. Căn cứ vào chữ Hán khắc trên cây nóc ở tòa đệ nhị thì đền Lảnh Giang được trùng tu lần cuối cùng vào niên hiệu Bảo Đại năm thứ 18 (1944). Trải qua nhiều lần tu sửa, đến nay đền Lảnh Giang có quy mô bề thế.
Đến đây du khách không khỏi ngạc nhiên trước một công trình kiến trúc đồ sộ, uy linh. Tam quan xây theo kiểu chồng diêm tám mái, các đầu đao cong vút thanh thoát hình đầu rồng đắp nổi, đan xen mặt nguyệt, lá lật cách điệu mềm mại. Phía trước Tam quan là hồ bán nguyệt, nước hồ phẳng lặng như bàn ngọc thạch bày lên những đóa hoa súng đỏ tươi. Giũa hồ, ngọn bảo tháp đứng trầm mặc được nối với cửa đền bằng chiếc cầu cong tạc hình lưỡi long hướng địa, ẩn hiện dưới bóng cây si già hàng ngàn năm tuổi.
Đền Lảnh Giang được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc gồm 3 tòa, 14 gian, hai bên có nhà khách, lầu thờ, 4 bên có tường gạch bao quanh. Trong đền có nhiều đồ thờ giá trị như tượng Tiên Dung công chúa, khánh long đình, khám đặt tượng thờ 3 vị tướng thời Hùng vương được chạm khắc công phu theo phong cách đời Lê. Ngoài ra đền còn giữ được hai kiệu bát cống long đình, một sập thờ và nhiều hoành phi, câu đối, nhang án. Kề bên đền Lảnh Giang về phía bờ sông là ngôi đền thờ Cô Bơ Thoải Phủ (hệ thống thờ Đạo Mẫu Việt Nam).
Mộc Nam, một miền quê cổ tích, hương khí đất trời hòa nhật trong trẻo, tạo nên vẻ thánh thiện nguyên sơ vốn có của vùng đất bãi, như du hồn ta về với Lảnh Giang. Gió từ các ngả sông ùa vào đền lung linh huyền thoại, âm âm truyền thuyết về nàng Quý, Tiên Dung, Chử Đồng Tử.
Ngày xưa, ở trang An Cố huyện Thuỵ Anh – phủ Thái Ninh – trấn Sơn Nam, có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà đã cao tuổi mà vẫn chưa sinh được mụn con nối dõi.
Một đêm trăng thanh, gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi, bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô gái về làm con và đặt tên là Quý. Ông bà coi nàng Quý như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm nơi đất tốt để an táng cho ông.
Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, đang lúc ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn ba vòng quanh mình nàng, khiến nàng kinh hoàng mà ngất lịm, lúc sau thuồng luồng bỏ đi. Từ hôm đó, nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời dèm pha, khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Thời gian thấm thoát thoi đưa, ngày mùng 10 tháng giêng năm Tân Tỵ, nàng chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điềm chẳng lành, nàng đem cái bọc quẳng xuống dòng sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao”. Khấn xong, ông Minh rạch ra bỗng thấy ba con rắn từ trong chiếc bọc trườn xuống dòng sông. Con thứ nhất theo hướng cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám (nơi nàng Quý đang sống). Nhân dân các trang ấp ở đay thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.
Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều nghe thấy dưới dòng sông có người ngâm vịnh
Sinh là tướng, hoá là thần
Tiếng thơm còn ở lòng dân muôn đời
Khi nào giặc dã khắp nơi
Bọn ta mới trở thành người thế gian
Bấy giờ Thục Phán thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà không có con trai, nên có ý định cướp ngôi. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân làm 5 đường thủy bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy, nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thủy thần sinhở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉng dậy, Duệ Vương liền sai sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang ĐÀo Động, bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng, hình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó ông Vĩnh gọi hai em đến bái biệt thân mẫu rồi cùng nhau đến yết kiến vua Duệ Vương. Vua Hùng Liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, Ái Châu, Hoan Châu. Hai em và các tướng hợp lại dưới sự chỉ huy của ông, năm đạo quân Thục đều bị tiêu diệt.
Nghe tin thắng trận, Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn, nhà vua phong ông là Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần, nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua đồng ý, ông Vĩnh cùng hai em về quê bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng. Thấy ở bên sông có khu đất tốt, ông Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui.
Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không còn nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình. Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ứng Thái Thượng Đẳng Thần, đồng thời đặt lệ, ban sắc chỉ cùng tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu phụng thờ.
Các triều đại sau đó đều có sắc phong cho ông, tất cả 12 sắc. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7 (1913).
Hồ bán nguyệt và tháp trước đền
Cùng trên mảnh đất thiêng này có câu chuyện về mối tình Tiên Dung, Chử Đồng Tử từ ngàn xưa còn vọng đến hôm nay. Thủa ấy, ở thôn Đằng Châu có một nhà nghèo gặp cơn hỏa hoạn. Hai cha con chỉ còn một manh khố ngắn dùng chung để khi có việc ra ngoài. Lúc người cha qua đời, Chử Đồng Tử đã dành chiếc khố cuối cùng khâm liệm cha. Từ đó ngày ngày chàng thường phải ngâm mình dưới nước.
Một hôm, Tiên Dung con gái vua Hùng đi du ngoạn, cảm nhận cảnh sông nước nên thơ, công chúa cho dừng thuyền lại bên bãi cát. Chử Đồng Tử đang mò cá dưới sông, nhìn thấy thuyền rồng, cờ rong lọng tía mà kinh sợ, vội vàng vùi mình dưới cát. Ngay lúc đó Tiên Dung sai các thị nữ quây màn để tắm đúng vào nơi mà Chử Đồng Tử ẩn nấp. Nước xối từ trên người nàng, trôi dần cát ở dưới chân, lộ Chử Đồng Tử trong màn quây. Sau giây phút ngỡ ngàng, cả hai người cho là duyên trời đã định, cùng nhau về triều xin phép vua cha cho kết duyên thành vợ chồng. Chử Đồng Tử, Tiên Dung đã về trời nhưng tình yêu, lòng hiếu thảo còn ở lại mãi với trần gian.
Trần Danh Lâm (1705-1777) khi về thăm Lảnh Giang đã có bài thơ:
“Con gái vua Hùng, tướng vua Hùng
Đền này truyền việc lại nhà thờ chung
Sự nghiệp nhân duyên thì rất đẹp
Tình đời chẳng đẹp đáng thau không”
Theo các học giả, dựa vào các tư liệu thành văn (thần phả, sắc phong) và đặc điểm kiến trúc ngôi đền cũng như truyền thuyết địa phương, mốc thời gian xây dựng đền vẫn chưa có tài liệu khẳng định. Ngôi đền còn lại hôm nay, hẳn rằng qua các triều đại trước đó, công trình đã được tu sửa nhiều lần, căn cứ vào những chữ Hán khắc trên cây nóc ở toà đệ nhị thì đền Lảnh Giang được trùng tu lại lần cuối vào niên hiệu Bảo Đại năm thứ 18 (1926-1945).
Bởi sự khắc nghiệt của thời gian, trải bao thăng trầm lịch sử, ngôi đền đã bị xuống cấp. Những năm qua được sự quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo của chính quyền địa phương, ngành văn hoá các cấp cùng bách gia trăm họ công đức, đền đã được tu sửa làm cho đền Lảnh Giang trở thành khu di tích quy mô, bề thế nhưng không mất đi dáng vẻ xưa của ngôi đền.
Ngoài giá trị tâm linh, đền Lảnh Giang còn là trung tâm của các cơ sở cách mạng trên đất Mộc Nam, ngọn cờ búa liềm sớm nhất được treo trên cây đa đình làng Yên Lạc (1931). Tháng 7/1945 nhân dân tập trung ở sân đền nghe đồng chí Lê Thành tuyên truyền chủ trương của phong trào cách mạng. Ngày 20/8/1945 nhân dân tập trung ở sân đền kéo về huyện lỵ tham gia cướp chính quyền…Tháng 10/1946 chi bộ đầu tiên của tổng Mộc Hoàn và Ủy ban hành chính kháng chiến khu Mộc Hoàn được thành lập ở đây. Đền Lảnh Giang là cơ sở tin cậy để các cán bộ, đảng viên huyện về nằm vùng hoạt động, theo dõi tình hình địch, lãnh đạo tổ chức chính quyền cách mạng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.