Đền Đồng Bằng | 2 nhap 1

      Đền Đồng Bằng thuộc quần thể du lịch tâm linh đền Đồng Bằng nằm ở  An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Đền Đồng Bằng thờ Vua Cha Bát Hải Động Đình. 

      Theo sự tích thì ngôi đền đã có từ thời vua Hùng Duệ Vương, tức đã trên 2000 năm. Ngôi đền này xưa có tên Hoa Đào Trang.    

Trong khu quần thể tâm linh đền Đồng Bằng có đến 7 ngôi đền. Trong đó đền Đồng Bằng là đến chính và còn có 5 ngôi đền khác: Đền Sinh, Đền Quan Đệ Nhị, Đền Quan Đệ Nhất, Đền quan Đệ Tam, Đền Quan Điều Thất, Đền quan Đệ Bát.

 Tục truyền, vào đời Vua Hùng Vương thứ 18, nước nhà bị ngoại bang xâm lấn, Long Cung Hoàng Thái Tử (Giao Long – con của Lạc Long Quân và người thiếp Ngọc Nữ) đầu thai vào một gia đình vùng cửa sông Vĩnh thuộc Trang Hoa Đào, đất Việt (An Lễ, Quỳnh Phụ bây giờ), giúp vua đánh giặc. Ngài cùng 2 em, 10 tướng (Quan Lớn thượng, Quan Đệ Tam, Quan Đệ Tứ…Quan Điều Thất (Hoàng Mười ), quân sư quê ở Nuồi (Tứ Kỳ – Hải Dương), 28 vị nội tướng và binh sĩ, chỉ trong 3 ngày xuất quân đã đánh tan giặc trên 8 cửa biển nước Nam. Từ đó, ngài có tên là Vĩnh Công (Trọng nhân phát tích trên sông Vĩnh)

\"\"/

       Sau chiến thắng, Hùng Duệ Vương triệu Vĩnh Công về triều phong là \”Vĩnh Công Nhạc phủ Thượng đẳng thần\”. Ngài xin về quê trông nom thân mẫu, khai khẩn vùng duyên hải, chiêu dân lập ấp, giúp vua Hùng giữ yên 8 cửa biển Lạc Việt. 10 tướng theo Ngài về Hoa Đào Trang. Riêng Quan Điều Thất về trời ngay sau khi thắng giặc. Vĩnh Công thương xót cho lập bàn thờ ngay tại Dinh Công Đồng là nơi ngài cùng chư tướng bàn việc (đó chính là Đền thờ quan Điều Thất ngày nay, thường gọi là Đền Công Đồng). Quan lớn Đệ Tam được phân công giữ yên vùng duyên hải từ sông Cái lên hết biên giới phía Bắc Lạc Việt. Quan lớn Đệ thập được tỵ nhậm tại Cửu Chân, Quan Đệ tứ được phân công khai khẩn vùng Bắc Sơn Nam…

         Có 5 vị nội tướng được Vĩnh Công sai khai khẩn chăn dân, lập ấp tại Hoa Đào trang (sau chính là 5 vị thành hoàng nổi tiếng linh ứng, đã có công âm phù Trưng Vương đánh thắng quân Tô Định)…Vua Hùng trao Vĩnh Công quản lý miền duyên hải Lạc Việt lấy tên là Tây Đô. Định kỳ hàng năm, nhân ngày đại thắng quân phương Bắc trên 8 cửa biển, Vĩnh công triệu chư tướng về tề tựu tại Hoa Đào trang (đất An Lễ bây giờ) tổ chức thi đấu vật, thi võ, bơi thuyền, giữa đội thuyền bản hạt và thuyền của các tướng, thuyền của quân sư Nuồi, để ôn lại chiến thắng, tập dượt phòng thủ và luyện quân sẵn sàng ứng phó mọi biến cố… (lệ thi bơi trải có từ đó)

Ngày 25 tháng 8 âm lịch, năm Bính Dần, Vĩnh Công thác về trời. Để ghi nhớ công ơn ngài, người dân trong vùng tôn ngài là “Vua cha – Bát Hải Đại Vương”, coi ngài như cha mẹ của dân. Vua Hùng thương xót, ban phong mỹ hiệu: \”Trấn Tây An Tam kỳ linh ứng Đại Vương\” cho tu sửa dinh thất của Vĩnh công thành miếu điện thờ tự hương hoả cho Vĩnh công mãi mãi… Từ đó, nhân ngày giỗ Vĩnh Công, các tướng lại tề tựu tại Hoa Đào trang, dâng hương và tổ chức các hình thức kỷ niệm ngày đại thắng như trước đây … Lâu dần thành lệ Hội tháng 8 âm lịch mà truyền đến ngày nay.

           Các tướng của Vĩnh Công sau khi mất đều được lập đền thờ, được các triều đại sau sắc phong tôn vinh, kính trọng. Tại đất Đào Động có Đền thờ Quan lớn Thượng, Quan lớn đệ Nhị, Quan lớn Đệ Tam, Quan lớn Điều Thất, Quan lớn Đệ Bát, tĩnh Quan lớn Thượng, tĩnh Quan Đệ Tứ, đều được tái tạo dựng trên nền cổ tự. Quan Đệ Ngũ thờ tại Đình Giới Phúc, tĩnh Quan Đệ Lục (Miếu Giáp Nhị) đã bị thực dân Pháp phá huỷ. Quan Đệ Tam còn được thờ ở Đền Lảnh Giang (Hưng Yên), Quan Đệ Tứ đền thờ chính ở Vĩnh Bảo – Hải Phòng. Quan Đệ Ngũ có đền thờ ở bến đò Chanh – Hải Dương, Quan Điều Thất có Đền ở Bảo Hà – Lào Cai. Quan Đệ Cửu xưa có Đền ở Thanh Hoá, Quan Đệ Thập (Hoàng Mười) có đền ở Nghệ An …

       Đền thờ Vĩnh công Đại Vương Bát Hải Động Đình từ xa xưa đã nổi tiếng linh ứng. Các triều đại sau này như Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… đều tái sắc phong cho ngài. Vĩnh Công được coi là Thượng Đẳng Thần của đất Lạc Việt, Hội tháng 8 âm lịch tại Đền, hội tụ muôn phương dân Việt về chiêm bái lễ cầu. Câu thành ngữ dân gian: Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ chính là để chỉ Hội tháng 8 ở Đền Đồng Bằng. Đây được coi là nơi \”đi trình về tạ\” của các bản Hội tín ngưỡng trong toàn quốc từ xa xưa.

          Dựa vào truyền thuyết, Vĩnh Công chính là Thái tử Giao Long (em cùng cha khác mẹ với vua Hùng Vương 18) sau khi hóa thần nhưng vẫn cực kỳ linh hiển phù trợ dân đất Việt, vì thế dân tôn sùng gọi ngài là Đức Vua. Đền Vĩnh Cung vì vậy còn gọi là đền Đức Vua. Mặt khác vì ông đã có công đánh giặc, giúp vua giữ yên 8 cửa biển Lạc Việt nên dân gian còn gọi đền Vĩnh Công bằng tên gọi Đền Đức Vua Bát Hải.

          Trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông, đất  Đào Động Hoa Đào trang xưa ( An Lễ – Quỳnh Phụ bây giờ ) là nơi hội quân của nhà Trần, chuẩn bị cho đại chiến Bạch Đằng… Đền Quan Đệ Tam, Đền Quan Thượng ở phía bắc đất Đào Động (gần Đống Đà) tương truyền là Đại bản doanh của danh tướng Yết Kiêu. Trên vùng chợ Đồng Bằng hiện tại, thời Trần gọi là Thôn Đông, có các di tích: Đình Đông (Đình Tháng 8) thờ Thành Hoàng Đường Đô Giám (tuỳ tướng của Vĩnh Công ), có Quán Trải (bảo quản Trải lớn của 6 Giáp, để thi bơi trong Hội tháng 8), Miếu Cảnh Am, Miếu Thu Phan.  Thôn Đoài có Đền Quan Đệ Nhị, chùa Tây, tĩnh Quan Đệ Tứ, tĩnh Quan Đệ Lục (Miếu Giáp Nhị – Thời Trần, đây là nơi tuyển quân Thánh Dực). Thôn Lãng có Đình Lãng thờ Thành Hoàng \”Ba Lãng Hãn Vệ Đại Vương\” (Thời Trần, đây là bản doanh của Phò mã Nguyễn Chế Nghĩa). Thôn Dất, cách Đền Đức Vua 600 m, là Đình Dất, thờ thân Mẫu của Vĩnh Công xưa (Đời Trần, Đình Dất là bản doanh của Điện Tiền Đô uý Phạm Ngũ Lão). Đền Quan Đệ Bát cổ, là nơi đóng quân của danh tướng Dã tượng và thớt Voi chiến lừng danh của Trần Hưng Đạo. Đền Công Đồng thờ Quan lớn Điều Thất từ thời Hùng Vương (Đời Trần là dinh quân của Danh tướng Trần Quốc Tảng – con trai thứ 3 Trần Hưng Đạo). Ông đã cùng Trần Khánh Dư chặn đánh giặc ở cửa biển Vân Đồn. Khi tử trận, ông được lập đền thờ tại Cửa Ông (danh từ Ông là cách gọi tôn trọng Trần Quốc Tảng ).

           Phía chính bắc đền Đồng Bằng là đống Thần Đồng Hưng thờ 1 trong 5 vị Thành hoàng đã giúp hai Bà Trưng đánh thắng quân Tô Định. Trước ngày tiến quân ra Bạch Đằng cự giặc, Trần Hưng Đạo làm lễ dâng hương tại Đền Đức Vua, Đền Quan lớn Đệ Tam,  lập Đàn cầu Bách Thần đất Việt phù trợ rồi ban lệnh xuất quân… Sau chiến thắng Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương lại về tế tạ tại Đền. Khi ông mất, bài vị của ông được lập và thờ cạnh bài vị Vĩnh Công tại cung Cấm trong Đền Đồng Bằng.

           Sau 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông nhà Trần đã đầu tư công sức, tiền của để tôn tạo Cửa Đền. Năm Trùng Hưng thứ 4 (1288), vua Trần Nhân Tông tái phong mỹ tự cho Vĩnh Công, cho phép mở mang tu bổ đền phủ, tương truyền mở rộng đến cung đệ nhị bây giờ. Dưới thời Tiền Lê, Đền được xây dựng, mở rộng thành 5 công (lấy số 5 của ngũ hành để ngầm chỉ sự bao quát càn khôn), 4 ban thờ Công Đồng khang trang, hoành tráng và được liệt vào tứ cố cảnh của nước Việt (Đào Động, Lộng Khê, Tô Đê, A Sào).

        Tọa lạc trên khuôn viên rộng 11.000 m2, Đền Đồng Bằng là một quần thể rộng lớn, bao gồm hệ thống các đền, miếu, am, tháp, gọi chung là 6 phủ: 1 đền chính (Đền Đức Vua) và 5 đền khác là đền Sinh, quan Đệ Nhị, quan Đệ Tam, quan Điều, quan Đệ Bát.

         Đền Đồng Bằng là một công trình kiến trúc đồ sộ với tầng tầng, lớp lớp các cung của 13 tòa, 66 gian liên hoàn khép kín với các nét trạm trổ tinh vi, hàng trăm câu đối đại tự  sơn son thiếp vàng.  Theo thuyết phong thủy, Đền tọa lạc trên thế đất đẹp cát vượng, hổ chầu, lăng tụ biểu tượng cho sự vững bền và hưng thịnh. Cổng Đền kiến trúc theo kiểu Đại Vương Tam Tọa Vọng Lâu đời Nguyễn với 3 cửa, cửa Trung môn là chính môn to rộng chỉ mở những ngày Đại lễ, tả hữu môn được mở thường nhật để khách vào Đền. Lầu trên của tòa cổng chính gọi là Lầu Kính Thiên viết 4 chữ: Bát Hải Động Đình khổ lớn. Bước qua cổng tam quan là nơi tổ chức Đại lễ tế Công Đồng cho những ngày lễ trọng. Chính giữa Cung Đệ Tứ là tấm Hoành phi cỡ lớn đề 3 chữ : Phúc, Du, Đồng. Tiếp sau là Cung Đệ Tam, Đệ Nhị với lối bài trí, thiết tự phong phú thể hiện sự thanh hư, thoát tục.

=========================

====================

Đền Đồng Bằng và truyền thuyết về Vua Cha Bát Hải

Posted on by Oản Cô Tâm

Đền Đồng Bằng còn được biết đến với tên gọi là đền thờ Đức Vua cha Bát Hải hay đền Đức Vua là di tích lịch sử văn hóa thuộc địa phận xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Với những giá trị tâm linh lâu đời quý giá nơi đây, đền Đồng Bằng là điểm đến du lịch, hành hương chiêm bái thiêng liêng nổi tiếng cả nước gắn liền với sự hiển thánh của Vua Cha Thủy Phủ.

NỘI DUNG [ẩn]

Thuyết minh về Vua Cha Thủy Phủ và thần tích đền Đồng Bằng

Sự tích đền Đồng Bằng và sự hiển linh của Vua Cha Bát Hải được lưu truyền dưới câu chuyện sau: Vào thời Hùng Vương thứ 18, nhân dân vùng duyên hải nước Văn Lang bấy giờ còn rất thưa thớt, làm nghề chài lưới và nông tang. Tương truyền, vùng đất An Lễ khi xưa có dòng sông Vĩnh cổ (ngày nay là sông Đồng Bằng) là nơi sinh sống của nhiều loài thủy quái, thuồng luồng, giao long. Hai bên bờ sông là cư dân sống với nghề nuôi tằm dệt vải, khai khẩn bãi bồi canh tác cùng với việc chài lưới đánh bắt tôm cá qua ngày.

Xem thêm: Sự tích Đức Thánh Tản Viên và truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh.

Ngày ấy, có một đôi vợ chồng là Phạm Túc và Trần Thị là người sống tại vùng Trang An Cổ (Thụy Anh – Thái Bình ngày nay) cũng đã lớn tuổi mà vẫn chưa có con. Một ngày, khi ôn bà đang ngược dòng đánh cá trên dòng sông Vĩnh đền vùng Trang Hoa Đào (vùng An Lễ ngày nay) thì tình cờ gặp một cô gái nhỏ, liền đón về nhà nuôi và đặt tên là Qúy Nương. Khi cha mẹ nuôi qua đời, nàng tận tâm hương khói báo hiếu và không màng hôn sự. Một lần khi ra bờ sông tắm thì bỗng nước động dữ dội, một con Hoàng Long hiện ra siết chặt lấy nàng. Một lúc sau thì sóng yên biển lặng, Hoàng Long biến mất và Qúy Nương thấy mình đã nằm trên bãi sông. Một thời gian sau, nàng phát hiện mang thai và về vùng Hoa Đào Trang sinh sống. Đúng 13 tháng sau, nàng hạ sinh ra một bọc phát ra ánh hào quang. Qúy Nương sợ hãi bèn thả cái bọc xuống dòng sông Vĩnh và được một người cất vó bên sông vớt được. Khi rạch bọc ra, ông kinh hãi thấy từ trong bọc chui ra 3 con Hoàng Xà đầu Rồng mình Rắn là con của Lạc Long Quân. Con lớn nhất là Thái tử Giao Long vượt sông lên bờ ẩn náu trong một giếng nước gần đó, còn hai con còn lại bơi theo dòng nước dạt về nơi khác. Vào đêm đấy, người dân Hoa Đào Trang nghe thấy tiếng vang động rằng “Ta là con Long Quân, khi có giắc sẽ giúp Vua Hùng diệt giặc”. Rồi sau đó, nhân dân vùng lập miếu thờ tại nơi có cái giếng, từ đó hương khói cầu “phong đăng hòa cốc” thấy rất linh nghiệm.

Xem thêm: Sắm lễ dâng về đền Trình của đền Đồng Bằng – nơi thờ Quan Lớn Đệ Bát linh thiêng Tứ Phủ.

Bấy giờ, Hùng Duệ Vương đã đến tuổi Kỳ lão (60 tuổi) mà vẫn chưa có con trai nối dõi. Hai người con gái của Vua là Tiên Dung công chúa kết duyên cùng Chử Đồng Tử rồi tu tiên biệt tích, và Mỵ Nương công chúa lấy Tản viên Sơn Thánh (tức Sơn Tinh). Vua rất phiền lòng khi có nhiều thế lực đang nhăm nhe ngôi Vàng chưa có người kế vị. Vua cũng đã nhiều lần gợi ý trao vương miện cho Sơn Thánh nhưng ngài quyết không nhận mà chỉ khi đất nước có hữu sự mới về Triều giúp vua Cha, còn khi yên sự Ngài lại về chốn Tản viên tu luyện thành đạo chứ không màng quan tước. Trong số những thế lực nội bộ đang nhòm ngó ngai vàng có Thục Vương (nguyên gốc là người Trung Nguyên di cư xuống phía Nam lâu dần thành dân Bách Việt). Thục Vương bị Vua khước từ mong muốn cưới Mỵ Nương làm thiếp và gả nàng cho Sơn Tinh, liền lựa thời cơ hợp sức cùng quân ngoại bang thôn tính Lạc Việt. Hùng Duệ Vương hết sức lo lắng và mời Sơn Thánh về Kinh hiến kế, sau đó theo lời Sơn Thánh ma sai sứ giả về Hoa Đào Trang dụ triệu kỳ nhân. Được nhân dân trong vùng mách bảo có Giao Long sống ẩn mình dưới giếng cạn, sứ giả liền tới nơi xướng truyền sắc chỉ. Sau đó, một chàng trai khôi ngô tuấn tú hơn người hiện ra, tâu rằng nhận lệnh Vua và triệu tướng trong 10 ngày rồi xuất quân trên cả 8 cửa biển nước Nam, hứa 3 ngày sau giặc sẽ tan. Chàng trai đó chính là Vĩnh Công (là hiện thân của Vua Cha Bát Hải).

Đúng như lời hẹn, sau khi xuất quân đánh giặc được 3 ngày, Vĩnh Công và các tướng giành thắng lợi trở về, được Vua phong là “Vĩnh Công nhạc phủ thượng đẳng thần”. Công đức của Vĩnh Công trong trận chiến là rất lớn, khiến Vua Hùng nể trọng. Không chỉ vậy, Vĩnh Công vừa cùng các Quan giữ yên 8 cửa biển Lạc Việt, vừa về Hoa Đào Trang khai dân lập ấp, chia vàng Vua ban cho dân làm vốn canh tác, dạy họ làm ăn, sinh hoạt cộng đồng và được nhân dân vùng Hoa Đào Trang hết lòng tôn kính. Một ngày, Vĩnh Công mời hương lão đến dinh thất của mình (tương truyền là đền Đồng Bằng hiện nay) nói lời từ biệt rồi vâng mệnh về chầu Vua Cha Lạc Long Quân. Vua Hùng biết tin vô cùng thương xót, liền cấp tiền tang lễ và tu sửa dinh thất thành đền tự thờ Ngài, nay là đền Đồng Bằng. Ngày hóa của Vĩnh Công là vào tháng 8, bởi vậy dân gian mới lưu truyền đến ngày nay câu “Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ” để  nói về Hội tháng 8 ở đền Đồng Bằng thờ vị Vua Cha Thủy Phủ mang tên Vĩnh Công Đại Vương.

Ngoài ra, dân gian ngày nay vẫn còn lưu truyền truyền thuyết rằng “Tam kỳ linh ứng” trong hiệu của Đức Vua Bát Hải chính là nói về 3 lần ngài phát tích hiển linh, trong đó có lần phát tích là Vĩnh Công Đại Vương như trên. Còn lần thứ hai, Ngài hiển linh trong hình tượng Vua Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Lần thứ ba, Ngài hóa thân thành Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 3 lần đánh thắng quân Nguyên – Mông.

Sự tích đền Đồng Bằng

Tục truyền, ban đầu đây là ngôi miếu nhỏ được khởi dựng trên vùng đất rộng tại trang Đào Động (̣vùng Đồng Bằng ngày nay) vào đời vua Hùng Vương thứ 18 (vua Duệ Vương). Lúc này, nước nhà bị giặc Thục xâm lấn song thế giặc quá mạnh khiến quân triều đình không chống đỡ nổi. Triều Đình đã lập đàn triệu Linh Sơn Tú Khí về giúp sức dẹp giặc. Thủy thần làng Đào Động (tức Vua Cha Bát Hải Động Đình) đã hiển linh phò Vua dẹp tan giặc giữ và có công đầu trong việc lập ra 8 trang Đào Động. Đất nước thái bình, Ngài được sắc phong “Trấn Tây An Nam Tam Kỳ Linh Ứng – Vĩnh Công Đại Vương Tối Thượng Đẳng Linh Thần” và từ đó đền là nơi địa linh thờ Ngài được cả nước hướng vọng.

Vùng đất xây dựng đền trước kia có tên là trang Đào Động, một trong những phòng tuyến quân sự, đóng quân và luyện tập thủy chiến binh nhung nhà Trần vào thế kỷ 13. Cũng là nơi ghi dấu khí thế hào hùng oanh liệt của quốc gia trong kháng chiến chống giặc.mTrước khi xung trận, Hưng Đạo Đại Vương cùng các tướng về dâng hương cửa đền cầu nguyện âm phù. Sau ba lần đại thắng quân Nguyên – Mông, nhà Trần đã quay lại đền đầu tư tôn tạo.

Đền Đồng Bằng hiện nay đang thờ ai?

Đền là nơi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, người có công giúp Vua Hùng đánh giặc ngoại xâm, phù dân vệ quốc. Từ cuối thế kỷ XIII, nơi thờ tưởng niệm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và các tướng nhà Trần có công lãnh đạo nhân dân làm nên chiến thắng ba lần đánh quân Nguyên – Mông cũng được xây dựng tại quần thể di tích này.

đền đồng bằng
Đền Đồng Bằng ngày nay đã được tu sửa bề thế

Kiến trúc mang đậm giá trị tâm linh 

Đền Đồng Bằng uy nghi, nổi bật giữa quần thể di tích trang nghiêm bao gồm các ngôi đình, miếu chùa, đền điện,… gọi là 6 phủ cùng nằm trên địa phận xã An Lễ. Ngoài đền chính là đền Đức Vua còn có và 5 đền khác là đền Sinh, quan Đệ Nhị, quan Đệ Tam, quan Điều, quan Đệ Bát. Cách đó không xa là đền thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương) và các danh tướng.

Đền Đồng Bằng được coi là công trình kiến trúc uy nghi, rộng lớn vào bậc nhất quốc gia với 13 toà, 66 gian cùng kết cấu tiền nhị hậu đỉnh liên hoàn khép kín. Kiến trúc đền cũng ảnh hưởng bởi phong cách vùng Huế những năm đầu thế kỷ, được ví như một bảo tàng mỹ thuật với những chạm khắc tinh xảo. thâm nghiêm kỳ vĩ như một cung đình phong kiến thời thịnh trị.

Cổng đền thiết kế theo kiểu vọng lâu tam tòa đời Nguyễn gồm Đông Môn Đại, Tây Môn, Tiền Môn, nằm đối diện hồ bán nguyệt phía trước cổng. Bước qua cổng tam quan, du khách đã đi vào sân chính nội tự, là nơi tổ chức đại lễ tế công đồng trong những ngày lễ trọng, cũng như là nơi tổ chức các chiếu chèo trong lễ hội xưa.Toàn bộ khu đền chính rộng tới 20.500m2. Riêng diện tích nội tự là 6.000 m2.

đền vua cha bát hải thái bình
Sân chính của đền
đền vua cha bát hải thái bình
Bên trong khu vực thờ của đền Đồng Bằng
đền vua cha bát hải thái bình
Ban Vua Cha Bát Hải
đền vua cha bát hải thái bình

Trong đền vẫn còn lưu giữ được nhiều đồ tế khí tại thời Lý và trước thời Lý. Các bài vị và những công trình kiến trúc đồ gỗ độc đáo như cuốn thư, hoành phi, câu đối, đại tự… hình thức vẫn còn khá nguyên vẹn. Trong phủ điện thờ, ngày đêm không ngớt tiếng đàn hát của các đội chầu văn. 

đền đồng bằng thái bình
Động Sơn Trang

Năm 1986, di tích lịch sử văn hóa đền Đồng Bằng đã được Bộ Văn hóa công nhận và cấp bằng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. văn hóa phi vật thể Quốc gia.

Một số kinh nghiệm dâng lễ

Lộ trình di chuyển từ Hà Nội

  • Với xe khách:

Xe khách đi tới đền Đồng Bằng Quỳnh Phụ Thái Bình có tại nhiều bến xe lớn tại Hà Nội. Nếu quý khách gần bến xe Mỹ Đình, bạn có thể bắt xe khách (vd: nhà xe Hà Thi) vào các buổi sáng sớm chuyến 6h30, 7h, 7h20. Còn nếu xuất phát từ bến xe Gia Lâm, bạn bắt xe chặng Thái Bình – Hà Nội (vd: nhà xe Hải Âu) . Xe trả khách tại chân cầu Vật. Bạn xuống xe và đi bộ xuống đền chỉ cách 200m.

  • Phương tiện cá nhân (chặng đường khoảng 98km và thời gian di chuyển khoảng 2h – 2h30)

Tại trung tâm Hà Nội, quý khách có thể đi theo đường QL1A ra cao tốc Hà Nội, Hải Phòng. Tiếp tục đi theo lối về TP.Hải Dương vào QL38B. Đi tới QL20A/DT392 rồi rẽ vào đường Trục Bắc Nam. Tới Nguyễn Quang Cáp/DT216/DT455 bạn tiếp tục đi thêm khoảng 6km là tới đền.

Đường thứ 2, du khách có thể đi theo ĐCT Hà Nội – Pháp Vân – Cầu Giẽ/ CT 01 ra QL 21B/ Đại lộ Thiên Trường tp Nam Định ra QL 38B – QL 10 là tới đền Vua Cha Bát Hải.

Sắm lễ dâng đền Đồng Bằng

Hằng năm không chỉ vào dịp lễ hội , mà những ngày thường vẫn có rất nhiều người dân đến để lễ bái, tưởng nhớ công ơn của người anh hùng và các đấng thần linh. Hành hương tới đền Đồng Bằng, ai ai cũng mang lòng thành kính khi hướng về Đức Vua Cha. 

đền đồng bằng quỳnh phụ thái bình
Dâng lễ đền Đồng Bằng

Cũng chính vì điều đó mà khi tới đền Đồng Bằng, người ta hay sắm sửa những đồ lễ chỉn chủ, đầy đủ nhất cầu Tài Lộc, chiêm bái và thưởng ngoạn cảnh đẹp nơi đây. Người dâng lễ có thể đặt lễ chay hoặc lễ mặn tùy tâm. Lễ chay gồm: hương, hoa tươi, quả chín, phẩm oản, xôi chè. Lễ mặn gồm: gà, giò, trầu cau, rượu… Trong đó, oản lễ là vật phẩm dâng lễ ý nghĩa nên có trong mâm cỗ cúng.

Oản lễ đã là vật phẩm dâng cúng từ đời cha ông ta đến nay. Hiện tại, nhiều nghệ nhân làm oản đã biến hóa sáng tạo những quanh oản nhỏ xinh đơn giản thành những mẫu oản lễ Tài Lộc thiết kế thẩm mỹ, tinh tế mà vẫn giữ nguyên phần hồn linh thiêng của thứ bánh dân tộc.

Xem thêm: Hướng dẫn cách chọn oản tài lộc thắp hương, dâng lễ thành kính

Tuy Oản lễ có nhiều màu sắc và hình dáng nhưng oản dâng Vua Cha Bát Hải nên có màu trắng. Bởi Ngài là Đức Vua Cha đứng đầu miền Nước trong 4 miền và màu trắng là màu sắc đại diện. Oản cô Tâm xin giới thiệu mẫu Oản ngọc thích hợp dâng đền Đồng Bằng để quý khách tham khảo:

đi lễ đền đồng bằng
Oản lễ tạo hình màu trắng dâng Vua Cha tại đền Đồng Bằng
đi lễ vua cha thủy phủ
Oản Tài Lộc được trang trí cầu kỳ thể hiện lòng thành kính

Oản cô Tâm là đơn vị chuyên về Oản lễ Tài Lộc dâng lễ đền Đồng Bằng và các đền, chùa cũng như bàn thờ gia tiên. Tại đây, quý khách có thể đặt mua những mẫu oản lễ thiết kế sáng tạo, mới lạ và tinh xảo đến từng chi tiết và nhận được tư vấn nhiệt tình về sản phẩm. Ngoài ra, chúng tôi còn cung cấp phụ kiến làm oản với cam kết chất lượng cao

Lễ hội

Vào ngày 20/8 âm lịch thường năm, người dân bản địa và du khách thập phương lại nô nức đổ về đền Đồng Bằng dâng hương tưởng nhớ và  tham dự lễ hội truyền thống nơi đây. Lễ hội này đã được vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia vào năm 2016, mang ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần và văn hóa tín ngưỡng của nhân dân vùng đất Quỳnh Phụ, Thái Bình, từ tục thờ thủy thần đến thờ Cha, thờ Mẹ, thờ Anh hùng dân tộc và Anh hùng văn hóa.

lễ hội đền đồng bằng

Đến với lễ hội đền Đồng Bằng, du khách hành hương và người dân được tham dự phần lễ bao gồm lễ rước của các đền Mẫu Sinh, Quan Đệ Nhất, Quan Đệ Nhị, Quan Đệ Tam, Quan Điều Thất, Quan Đệ Bát về đền Vua Cha Bát Hải. Sau đó là lễ dâng hương, rước bài vị, khai chiêng, trống mở hội. Phần hội được tổ chức đông vui, náo nhiệt với hàng loạt trò chơi dân gian đặc sắc như bơi chải, kéo co, cờ tướng, đấu vật, chọi gà….Một phần lễ hội đền Đồng Bằng:

Văn thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình

Đệ tử vọng bái khấu đầu

Thần tiến văn chầu cửa phủ Thái Ninh

Phủ Thái Ninh trong miền Phụ Dực

Danh tiếng đồn náo nức gần xa

Động Đình sông vắng ngã ba

Tối linh thượng đẳng trên toà uy nghi

Đôi bên ngựa phục voi quỳ

Phượng thì đua múa, hạc thì chầu lên

Trước án tiền nức mùi hương xạ

Trên đền hương khói toả vân long

Chữ rằng: “Vạn tuế thánh cung”

Quy mô lồng lộng, cửa rồng nguya nga

Dưới sông lác đác chèo qua

Buồm giương thuận gió ắt là Tiêu Tương

Cảnh lạ nhường cây chầu uốn éo

Lá dầm khê yểu điệu màu xanh

Bốn bề sơn thuỷ bao quanh

Gần xa đều đến phục tình làm tôi

Địa linh chiếm lấy một ngôi

Thiên hạ tái hồi về phục Đại Vương

Minh đường sơn thoải đại giang

Đôi bên huyền vũ cảnh càng thanh tao

Kẻ anh hào gần xa đều đến

Cầu việc gì ứng nghiệm linh thông

Có khi hoá vũ hành phong

Phép thiêng rẽ nước giao long đi về

Dưới Thuỷ Tề công đồng nghị luận

Trên Thượng Thiên mở trận mưa sa

Trần gian ai dễ biết thay

Độ cốt độ thày lại được ăn công

Thánh độ cho khắp thanh đồng

Có lòng thành kính ban công lộc nhiều

Bách quan văn vũ thần liêu

Khâm sai các bộ dập dìu đai cân

Đứng chật sân y quan lễ nhạc

Tửu tam tuần tiến bước thung dung

Tuần sơ tuần á tuần chung

Nội thông ngoại dẫn đôi lòng khoan thai

Lễ thưởng tiến cống đồ tươi

Sắc phong thượng đẳng muôn đời truyền lai

Hạ tuần tháng tám đôi hai

Trải qua xem rạng đua tài chèo bơi

Mở hò reo dưới sông lừng lẫy

Trên xướng ca đàn gẩy xênh trong

Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông

Thảnh thơi thánh vực, ruổi rong thiên đàng

Trống vang lừng chiêng vàng điểm đót

Giọt đồng hồ thánh thót ngân nga

Dưới sông lừng lẫy kêu loa

Thượng từ đò Tị hạ là bến Bông

Đôi bên sông đỏ đào rực rỡ

Nhác trông lên đã ngỡ động tiên

Cõi trần đâu dễ mấy hơn

Thơm danh nức tiếng phủ miền Thái Ninh

Trên Thiên Đình khâm thừa đế mệnh

Dưới Việt Nam quốc chính hộ dân

Thần thông biến hoá muôn phần

Bùa thiêng phép diệu xa gần sợ uy

Mấy huyền vi thiên trường địa cửu

Phù hộ cho hoà hảo bách niên

Sinh ra con phượng cháu tiên

Lưu ân giáng phúc thiên niên thọ trường.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Optimized by Optimole