Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124

Đền Dầm tọa lạc tại Thôn Sâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội. Vì vây, Đền Dầm còn có tên là Xâm Xương Linh Từ theo địa danh của ngôi đền. Đền Dầm là nơi thờ Mẫu Thoải. Đền Dầm nằm trong cụm di tích tâm linh gồm Chùa Công Minh. Đền Mẫu Cửu, Đền Dầm nằm sát tường nhau và Đền Đại Lộ cách đó 200 mét.
Đây là một ngôi đền thiêng có từ thời nhà Trần. Đền đã được các đời Trần, Lê, Nguyễn sắc phong đến 28 lần (Trần triều 7 đạo, Lê triều 13 đạo, Nguyễn triều 8 đạo). Đây là một kỷ lục về sắc phong, khó có đền phủ nào được như vậy. Số lượng sắc phong này ngang với Phủ Tiên Hương – Nơi thờ của Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Dày.
Cách Đền Dầm khoảng 2 km tại xã Hồng Vân cũng có một ngôi đền thờ Mẫu Thoải đó là Đền Xâm Thị. Đền Xâm Thị có cùng tích về Mẫu Thoải tương tự như đền Dầm. Đây được coi là hai đền chính của Mẫu Thoải gắn với tích Mẫu Thoải hiển linh phù vua Trân Nhân Tông đánh giặc Nguyên.
Thần phả Đền Dầm về Mẫu Thoải cũng không có gì khác nhiều với thần tích về Mẫu Thoải tại vùng Tuyên Quang. Tóm tắt thần phả về Mẫu Thoải tại đền Dầm như sau:
Vào thời kỳ sơ khai mở nước Văn Lang ta, trên thiên đình có nàng tiên nữ thứ 3 đến chầu thượng đế, chẳng may làm vỡ chén ngọc, trăm quan nghị tội, giáng xuống thủy cung làm con gái Thủy Quốc Động Đình Long Vương, sau gả cho Đô Đốc Côn Bằng đại tướng quân Kinh Xuyên. Vợ lẽ của Kinh Xuyên là Thảo Mai, thấy nàng tài sắc bèn đem lòng ghen ghét, giả làm 1 bức thư, tố cáo Kinh Xuyên vu nàng tư thông phản bội chồng. Kinh Xuyên giận dữ đầy nàng xuống trần thế, 10 năm sống ở núi Ngọc Hồ Kim Quy, làm bạn với chim muông cầm thú, sinh sống bằng hoa trái qua ngày. Một hôm thấy gió lướt mặt hồ, mây đùn lưng núi, tưởng nhớ quê nhà, thương cha nhớ mẹ, lòng buồn bã rối bời, nhân đó nàng ngâm 1 bài thơ rằng:
\”Từ biệt Kinh Xuyên trải mấy thu
Trời xanh mây lượn nhớ quê nhà
Tiêu dao trần thế bao ngày tháng
Cố hương thủy quốc biết nao về.\”
Tiếng ngâm chưa dứt mà dòng lệ chứa chan, tựa vào gốc cây, tinh thần mê man lúc say lúc tỉnh.
Lại nói thời ấy có 1 người ở xã Ngọc Lạp,huyện Thanh Miện, phủ Hồng Châu, đạo Hải Dương, họ Liễu, tên Nghị, là danh sĩ thời bấy giờ. Một hôm Nghị cùng 1 vài tên ra đồng chèo thuyền đến Ngọc hồ ngắm cảnh, để hưởng thú vị ngư ông. Thuyền đến hồ Kim Quy, bỗng nghe tiếng ngâm thơ văng vẳng, lời lẽ thảm thê, trong lòng lấy làm lạ, bèn nói với bọn ra đồng đi theo rằng: \”Không biết thần tiên hay ma quỷ mà lại có lời lẽ thê thảm đến như vậy.\” Ông bèn cho người dừng thuyền bên bờ quan sát thấy người con gái tuổi độ 18, mi xanh như liễu rủ, má thắm tựa hoa đào, dẫu tiên nữ ở cung trăng, hay phi tần nơi thượng giới, cũng không thể hơn được. Ông cười và bảo rằng:
– Cốt cách trần thế mà dáng vẻ thần tiên, may mắn nay gặp gỡ, nếu không phải là trăng rằm thì cũng là băng tuyết quy hòa nhập lại.
Nhân đó ông mới hỏi về nguồn gốc nguyên do, người con gái ứa lệ thưa rằng:\”
– Thiếp vốn là con gái Động Đìng Quân là vợ của Kinh Xuyên, chẳng ngờ thiên xứ dáng họa vô cớ, nay may gặp ngưởi tốt ở đây, dám xin người có kế sách gì cứu giải oan khiên, thiếp nguyện thề có sông núi không quên ơn nghĩa.
Liễu Nghị lại hỏi:
– Dương gian thủy quốc cách biệt lấy gì mà nghe thấu được?
Nàng nói :
– Thiếp có một cây kim thoa trao cho ngài, cảm phiền đi đến bờ biển Đông Hải, hễ thấy cây Ngô Đồng thì cầm cây Trâm gõ vào ba tiếng tất thảy thủy cung sẽ đều nghe biết.

Nói xong nàng đứa một phong thư nói rõ sự việc rồi đưa thứ và cây Trâm cho Liễu Nghị. Sau khi từ biệt người đẹp Liễu Nghị gắng sức lên đường, qua bẩy ngày đêm đến cửa biển Đông Hải (nay là cửa Diêm Hộ huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình) bỗng thấy cây ngô đồng cổ thụ, ông làm đúng lời người con gái dặn, tay cầm kim thoa gõ vào gốc cây ngô đồng, bỗng thấy một con rắn trắng nổi lên khỏi mặt nước, Liễu Nghị đem sự việc trên nói với rắn, rắn trắng rẽ nước đưa ông về thủy phủ. Đến nơi ông vào bái yết Long Vương trình rõ sự việc và đem thư cùng trâm vàng dâng lên. Long Vương xem xong thư bèn truyền rắn trắng đưa Liễu Nghị về lầu Nam dọn tiệc khoản đãi. Ngay hôm đó truyền sai con trai là Xích Lân và quân thủy tiến thắng đến xứ Ngọc Hồ Kim Quy đón công chú về thủy quốc.

Ngày mùng 9 tháng Giêng vua Long Vương gả công chúa cho Liễu Nghị và phong làm Phò Mã Quốc Tể quận công đồng thời cho cùng ở thủy phủ với công chúa. Sai lục bộ thủy tề đầy Kinh Xuyên và Thảo Mai về Ngọc Hồ Kim Quy.
Lại nói từ khi công chúa về thủy quốc tất cả dân hai bên bờ sông Cái từ thượng nguồn nơi Ngọc Hồ Kim Quy đến hạ lưu Ba Lạt – Thái Bình đều mắc bệnh dịch. Dân chúng cùng quan lại bèn lập đàn cầu nguyện và dâng biểu lên Thượng đế. Trang Xâm Miện, xã Xâm Thị, huyện Thanh Đàm (nay là Xâm Dương, Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội) vào nửa đêm dân làng đều nghe thấy tiếng chó sủa liên hồi và mơ thấy một người con gái mình mặc áo trắng mang đai ngọc lưu ly ngự trên rồng vàng bay lên từ mặt nước nói rằng :
– Ta là con gái động đình Long Vương, Thủy Tinh Ngọc Dung Công Chúa, Thượng đế sắc phong cho ta giúp nước cứu dân cõi Nam Giao, nay dân chúng gặp tai họa ta phụng lênh thượng đế đến cứu giúp.
Sau được bình yên lên dựng miếu thờ viết thần vị thì ắt được nhân khang vật thịnh.

Trời sáng các vị bô lão cùng dân làng ai cũng nói có cùng giấc mơ như vậy, và bệnh tật dần tiêu tan hết. Dần làng bèn cùng nhau xây dựng ngoi miếu thờ hàng năm Quốc cầu, dân đảo đều linh ứng rõ rệt.
Vào thời Trần Nhân Tông giặc Nguyên Mông xâm phạm bờ cõi nước ta, đức Vua mới ban búa Việt Cờ Mao cho Hưng Đạo Đại Vương tiết chết thủy lục chư binh chống giặc. Một lần, Hưng Đạo Đại Vương kéo quân qua Xâm Dương trời đà xẩm tối bèn cho quân sỹ thuyền bè neo đậu lại bên sông nghỉ lại.
Đương đêm bỗng thấy sóng nổi cát bay mây trời vần vũ, một chốc bống thấy mặt nước long lanh ánh bạc một người tiên nữ mặc áo trắng, đai lưu ly cưỡi rồng vàng bay lên mặt nước. Vương cả kinh nhưng tiên nữ bèn nói:
– Ta phụng mệnh thượng đế hộ quốc an dân, nay Quốc Công Tiết Chế hành quân qua đây xin âm phù giết giặc.
Quả nhiên ít lâu sau thuyền giặc kéo qua Xâm Dương thì bỗng dưng nổi sóng to gió lớn thuyền bè quân lương đều chìm cả, giặc chết vô số.
Các trận chiến trên Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương Đô, Đông Bộ Đầu….Đều có Thánh Mẫu linh phù làm sóng to gió lớn chìm tàu bè giặc chết đuối nhiều giúp quân ta thừa thắng.
Vận nước thái bình, triều đình luận tội phong công. Quốc Công bèn làm biểu tâu lên rõ sự việc linh phù ở Xâm Dương. Triều đình luận công Thánh Mẫu ban thưởng cho dân Xâm Dương tiền bạc xây dựng ngôi đền to lớn và ruộng đất để lo việc cúng tế hàng năm đồng thời sắc phong cho Thánh Mẫu.
Có thể nói, Đền Dầm là một ngôi đền cổ kính có từ xa xưa là một trong số ít các đền phủ vẫn còn giữ được vóc dáng kiến trúc cổ, ít bị pha tạp.
Đền rộng, kiến trúc cổ, cột gỗ và mái ngói cũ ngả màu thời gian cùng khuôn viên thoáng đãng.
Cổng Đền cao rộng, có ba cửa vào, sáu trụ xây, trên đắp nghê chầu, hoa văn, câu đối tỉ mỉ, tường đắp long mã, nhưng vắng nét cổ xưa. Vôi quét màu vàng, nâu theo lối bây giờ. Sân Đền khá rộng lát gạch. Bên trái chánh điện có gốc đa cổ thụ, theo tài liệu đã 800 năm. Gốc đa có nhiều rễ phụ biến thành gốc như cây đa Tây Thiên.
Chánh điện là một nếp nhà dài, mái ngói vảy cá thô dày (vảy cá xưa mỏng thanh hơn), cột gỗ sơn nâu, năm bậc cấp lên chánh điện láng xi măng. Trong Đền các hương án, bàn thờ đều chạm trổ rất công phu và đều sơn son thếp vàng.
Các triều vua kế tiếp đều có sắc phong cho đền. Nhân dân cũng không quên xây một miếu để thờ Hưng Đạo Vương ở nơi đây. Vì thế mà bên cạnh đền, không chỉ có miếu cô, miếu cậu còn có miếu thờ Trần Hưng Đạo.
Lễ hội chính của Đền Dầm kéo dài hai ngày từ mùng 5 đến mùng 7 tháng 2 âm lịch, nhưng thực tế lễ hội kéo dài mười ngày từ mùng 1 đến hết ngày 10 tháng 2 hàng năm . Ngoài phần lễ thì phần hội có rước nước, múa rồng, múa sư tử, kéo chữ, cờ người, hát quan họ, chọi gà.
======
====
Đền Dầm nằm tại địa phận thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội. Ngôi đền này thuộc cụm di tích tâm linh gồm: Chùa Công Minh, Đền Dầm, Đền Mẫu Cửu nằm sát nhau cùng đền Đại Lộ cách đó 200m. Ngôi đền Dầm nổi tiếng gắn liền với truyền thuyết Mẫu Đệ Tam hiển linh báo mộng giúp Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẹp giặc ngoại xâm.
NỘI DUNG [ẩn]
Đền Dầm thờ Tam Tòa Thánh Mẫu theo tâm thức người Việt. Trong đó, ngôi đền nổi tiếng về việc gắn liền với thần tích Mẫu Đệ Tam Thủy Cung – một trong ba vị Thánh Mẫu. Nơi đây gắn liền truyền thuyết sau:
Mẫu Đệ Tam là con gái út của Vua Cha Bát Hải Động Đình, được gả cho Kinh Xuyên là vị thần ốc trên núi. Khi Kinh Xuyên lấy tiểu thiếp là Thảo Mai, Tiên Chúa bị ả giáo dở vu oan và bị đày vào chốn rừng sâu núi thẳm. Tại đây, Tiên chúa gặp được Liễu Nghị trên đường lai kinh ứng thí đi ngang qua. Ngài viết chúc thư kèm một kim thoa trao cho Liễu Nghị, nhờ chàng đem tới Thủy cung để tâu trình lên Vua Thoải Quốc. Liễu Nghị giữ lời hứa, gắng sức lên đường đến cửa biển Đông Hải. Tại đây, chàng bỗng thấy cây ngô đồng cổ thụ, liền làm đúng lời người con gái cặn dặn: tay cầm kim thoa gõ vào gốc cây ngô đồng. Bỗng, một con rắn trắng nổi lên khỏi mặt nước. Ông đem sự việc trên nói với thần rắn và được thần rắn đưa về thủy phủ báo Vua. Sau đó, Tiên Chúa được hồi cung và kết nhân duyên với Liễu Nghị.
Từ khi công chúa về Thủy quốc, tất cả dân hai bên bờ sông Hồng khi đó là Trang Xâm Miện, xã Xâm Thị, huyện Thanh Đàm đều mắc bệnh dịch. Cứ vào nửa đêm, dân làng đều nghe thấy tiếng chó sủa liên hồi và mơ thấy một người con gái mình mặc áo trắng, mang đai ngọc lưu ly, cưỡi rồng vàng bay lên từ mặt nước nói rằng:
“Nay dân các ngươi gặp tai họa, ta đến đây để cứu giúp, sau này bình yên nhớ sẽ lập đền thờ, viết thần hiệu để thờ phụng ta thì sẽ được dân khang vật thịnh”.
Ngày hôm sau, các phu lão dân làng ai cũng nói cùng có giấc mộng như thế và bệnh tình dần dần tiêu tan hết. Từ đấy, dân làng dựng một ngôi miếu thờ, ngày đêm hương khói nghiêm cẩn.
Sau này vào thời vua Trần Nhân Tông, khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đem quân đánh giặc đi qua bến sông làng Xâm Miện, Ngài cũng đã hiện lên báo mộng giúp tướng đánh thắng giặc ngoại xâm. Khi thắng trận trở về, ông dâng biểu lên vua báo công và nêu rõ việc Ngọc Dung Thủy Tinh công chúa báo mộng. Vua sai sứ giả về Xâm Miện vào miếu (nay là đền Dầm) bái tạ, và ban tặng sắc phong. Rồi lệnh nhân dân Xâm Miện đến kinh thành rước sắc về để dân làng thờ phụng.
Xem thêm: Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên và sự tích 3 lần giáng hạ trần thế – Kinh nghiệm lễ đền thờ Thánh Mẫu.
Các triều vua kế tiếp đều có sắc phong cho đền. Theo bảng thống kê lưu giữ ở Đền Dầm, hiện có các Sắc phong qua các triều đại như sau:
Năm 1633, vua Lê Thần Tông sắc phong Đức long Ngũ niên
Năm 1857 – 1880, vua Hoàng đế Tự Đức sắc phong Tự đức Thập niên
Năm 1886, vua Kiến Giang Quận Công sắc phong Đồng Khánh Nhị niên
Năm 1909, vua Nguyễn Duy Tân sắc phong Duy Tân Tam niên
Năm 1924, vua Hoàng Thân Phụng Hóa sắc phong Khải Định Cửu niên.
Các sắc phong ghi trong thần phả gồm: Năm 1633 vua Lê Thần Tông, 1647 – 1649 vua Lê Chân Tông, 1650 – 1660 vua Lê Thần Tông, 1670 vua Lê Huyền Tông,1674 vua Lê Gia Tông, 1685 vua Lê Huy Tông, 1711 vua Lê Dụ Tông, 1730 vua Hôn Đức Tông, 1740 – 1767 – 1783 vua Lê Hiến Tông.

Nằm ven đê sông Hồng, ngôi miểu nay đã được tu tạo thành đền thờ. Nơi này vẫn giữ được lối kiến trúc cổ xưa với cột gỗ và mái ngói, cùng khuôn viên thoáng đãng đã được lát gạch bằng phẳng.

Cổng Đền cao rộng, có ba cửa vào, sáu trụ xây, trên đắp nghê chầu, hoa văn, câu đối tỉ mỉ, tường đắp long mã. Bên trái chánh điện có gốc đa cổ thụ, theo tài liệu đã 800 năm. Gốc đa có nhiều rễ phụ biến thành gốc như cây đa Tây Thiên. Chánh điện là một nếp nhà dài, mái ngói vảy cá thô dày (vảy cá xưa mỏng thanh hơn), cột gỗ sơn nâu, năm bậc cấp lên chánh điện láng xi măng. Trong Đền các hương án, bàn thờ đều chạm trổ rất công phu và đều sơn son thếp vàng.

Bên cạnh chính điện là miếu thờ các Thánh cô, Thánh cậu và đền thờ Hưng Đạo Vương. Miếu cô tọa lạc tại khuôn viên rộng nằm giữa hồ, còn miếu cậu thì đặt ngay sân chùa.
Vào tháng 2 ÂL mỗi năm, đền Dầm lại tổ chức tiệc hội long trọng. Lễ hội đền Dầm được tổ chức trong nhiều ngày, bắt đầu từ ngày mùng 1 và kết thúc vào ngày mùng 10. Lúc này, đền tiếp đón hàng ngàn du khách hành hương tới tham quan, chiêm bái những giá trị tâm linh. Trong đó, ngày hội chính của đền diễn ra vào mùng 5.
Vào ngày rằm, mùng 1 hàng tháng hay gần đến ngày hội đền Dầm, khách hành hương và con nhang, đệ tử thập phương lại rủ nhau tụ về đây bái yết nơi cửa đền. Trước là để bày tỏ lòng biết ơn và làm tròn đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, sau là mong cầu bình an, may mắn đến với gia khuyến. Oản lễ là thứ vật lễ thích hợp để dâng lên Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ cũng như các vị thần linh khác. Bởi vì, đây là thứ bánh linh thiêng lâu đời gắn bó với dân tộc, luôn song hành với sự hình thành và phát triển của nhiều tín ngưỡng tâm linh từ xa xưa. Ngày nay, các nghệ nhân nhiều nơi đã sáng tạo ra những mẫu oản được thiết kế, tạo hình độc lạ và sang trọng, được nhiều khách hàng lựa chọn làm đồ lễ dâng thần Tứ Phủ.
Xem thêm: Dâng lễ Oản Tài Lộc thắp hương Gia Tiên – Tứ Phủ – Thần Tài – Phật thành tâm nhất
Khi lựa chọn oản dâng lễ đền Dầm, quý khách nên lựa chọn những quanh oản được trang trí tỉ mỉ, tinh xảo từng chi tiết mà vẫn mang trọn vẹn ý nghĩa tâm linh. Mỗi vị Thánh Mẫu hay thần linh đều sẽ có màu sắc đại diện. Bạn nên sắm 3 quanh oản với 3 màu đỏ, trắng, xanh dâng Tam Tòa Thánh Mẫu đền Dầm. Hiểu được những giá trị tâm linh như vậy, Oản cô Tâm là địa chỉ tin cậy của nhiều quý khách hàng muốn đặt mua những mẫu oản thiết kế độc đáo, trang trí thẩm mỹ và phù hợp như mẫu oản lễ sau:



Những quanh Oản Tài Lộc Cô Tâm được sáng tạo bởi đôi bàn tay khéo léo của những người nghệ nhân làm oản am hiểu về hệ thống tâm linh tín ngưỡng của người Việt. Ngoài ra, Oản cô Tâm cũng cung cấp cả những phụ kiện làm oản cam kết chất lượng tốt nhất như con công, hoa lụa, quạt kim sa vàng giả kim,… Do đó, khi chọn mua lễ Oản tại Oản Cô Tâm, khách hàng sẽ hoàn toàn an tâm về chất lượng, mẫu mã và giá cả.
Chúng tôi xin được cung cấp một số thông tin về lộ trình di chuyển từ trung tâm Hà Nội tới đền Dầm để quý khách tham khảo.
Đền Dầm cách nội thành Hà Nội khoảng 20km. Vì vậy, quý khách đi từ trung tâm Hà Nội sẽ có nhiều sự lựa chọn để di chuyển như: