Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Đền Phủ Giầy toạ lạc ở làng Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Đền thờ bà Liễu Hạnh, một vị nữ thần được tôn thờ khá phổ biến ở Việt Nam, được tôn vinh là một trong Tứ Bất Tử. Khu vực đền Phủ Giầy là một quần thể di tích bao gồm nhiều công trình kiến trúc gồm phủ, đền, lăng mộ rất độc đáo.
Theo sách vở và thần tích thì bà Liễu Hạnh sinh năm Đinh Tỵ (1557), triều vua Lê Anh Tông, tháng Thìn (tháng Ba), ngày Dần, giờ Dần (khoảng 5 giờ sáng ngày mồng 1). Bà là con ông Lê Công Chính và bà Trần Thị Phúc, ngụ tại làng Vân Cát. Năm 18 tuổi, bà lấy chồng là ông Đào Long ngụ ở làng Tiên Hương, kế ngay làng Vân Cát. Năm 21 tuổi, bà không bệnh mà mất, để lại một con thơ. Ngày nay, làng Vân Cát và Tiên Hương đều có lập phủ thờ bà.
Có rất nhiều huyền thoại và truyền thuyết kể về Liễu Hạnh. Tương truyền, trước khi Liễu Hạnh chào đời, Lê Công Chính mơ thấy có thiên sứ dẫn ông về trời. Tại đây, ông chứng kiến cảnh nàng Quỳnh Nương tiên chúa làm vỡ chén ngọc, bị Ngọc Hoàng đày xuống cõi trần 21 năm. Sinh con, Lê Công đặt tên là Lê Thị Thắng. Vì ứng với điềm trong mộng, Lê Công cho con mang biệt hiệu Giáng Tiên. Về tên gọi Phủ Giầy, truyền thuyết kể lại rằng một vị vua khi qua vùng này có ngủ lại ở một quán bên đường do Tiên chúa dựng. Sáng hôm sau, nhận được một đôi giầy mới, nhà vua kinh ngạc và kính phục, bèn sai lập phủ thờ và đặt tên gọi là Phủ Giầy.
Ngoài ra, xung quanh nhân vật Liễu Hạnh là các huyền thoại hiển linh của bà: giúp nhà Trịnh dẹp giặc, hội kiến với Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan) nhân chuyến ông đi sứ Trung Quốc về tới địa đầu tỉnh Lạng Sơn và việc ông dựng tại đó ngôi Minh Thiên tự phủ thờ bà. Ngoài Phủ Giầy còn có nhiều nơi khác dựng miếu, đền thờ bà như ở Phố Cát, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa và tại miếu Ngọc Trản, cạnh chùa Thiên Mụ (Thành phố Huế) cũng có thờ bà. Điểm đặc biệt là ở miếu Ngọc Trản (do bà Quốc Thái dựng lên) không chỉ thờ Liễu Hạnh mà còn thờ thuỷ thần, thờ bà chúa Ngọc Thiên Y Na Diễn. Ở làng Tây Hồ, cạnh hồ Tây, thành phố Hà Nội cũng có một phủ thờ Liễu Hạnh gọi là phủ Tây Hồ. Trong phủ còn chạm khắc cả một bài thơ ghi lại cuộc du ngoạn tao phùng giữa Trạng Bùng với bà.
Đền Phủ Giầy (hay còn gọi là Khu di tích Phủ Giầy) hiện nay bao gồm hai phủ chính là Tiên Hương và Vân Cát, cùng một số công trình phụ. Khách hành hương đến Phủ Giầy phải vượt hàng trăm bậc đá để lên đỉnh núi Tiên Hương, còn gọi là núi An Thái để thăm đền Thượng (còn gọi là đền Mẫu Thượng Ngàn). Phía Nam đền Thượng, trên một quả đồi nhỏ có ngôi chùa cổ, ở đó có cây hương đá (khắc bài kinh cúng phật) từ đầu thế kỷ XVIII và ngọn tháp 14 tầng, mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn… Gần núi Tiên Hương còn có đền thờ Thiền sư Không Lộ, nhân dân thường gọi là đình ông Khổng và một số khu di tích khác có liên quan đến khu di tích Phủ Giầy.
Phủ Tiên Hương được xây dựng từ thời Lê Cảnh Trị (1663 – 1671), nhưng qua nhiều lần tu tạo đến 1914, dưới thời Nguyễn Duy Tân, Tổng đốc Nam Định Đoàn Triển về hưng công nên công trình còn lại đến nay có quy mô bề thế hơn xưa rất nhiều. Phủ Tiên Hương có 19 tòa với 81 gian lớn nhỏ, mặt Phủ quay về phía Tây Nam nhìn về dãy núi Tiên Hương. Trước phủ có hồ và một sân rộng, có ba tòa nhà dàn hàng ngang hai tầng, tách mái. Đây là Phương Du nơi đón khách tới hành hương. Phương Du có cấu trúc cân đối, các mảng chạm khắc trên các cấu kiện rất hài hòa, thanh thoát, thể hiện hình rồng, hình phượng (hai trong bốn con vật tứ linh). Liền đó là hồ bán nguyệt ghép bằng đá lục lăng, có đường kính dài 26m. Hệ thống lan can bao quanh hồ được xây dựng rất mỹ thuật, hai cầu nước được chạm khắc hình con rồng với móng vuốt sắc nhọn tinh xảo. Phủ có 4 cung: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ. Cung đệ nhất (chính cung) có 1 khám thờ, khảm trai, bề thế và tinh xảo. Bên trong có 5 toà Long cung sơn son thiếp vàng rực rỡ. Đây là nơi đặt năm pho tượng có giá trị mỹ thuật của thế kỷ XIX. Đó là các tượng “Thánh phụ thánh mẫu” và “Tam toà thánh mẫu”. Ngoài ra, đền còn một số công trình phụ như nhà bia, nhà khách, nhà kho… tạo thành lối “nội trùng thiêm ngoại chữ quốc” bề thế và ngoạn mục.
Phủ Vân Cát là một công trình kiến trúc qui mô được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 1 ha, đứng biệt lập. Phủ Vân Cát quay về hướng Tây Bắc, trước mặt là cánh đồng lúa bạt ngàn. Tuy bị hư hỏng nhiều nhưng Phủ Vân Cát vẫn còn 7 toà với 30 gian lớn nhỏ. Phủ Vân cũng có 4 cung như ở phủ chính Tiên Hương. Cung đệ nhất nơi thờ tượng “Tam tòa thánh mẫu” cũng uy nghi đường bệ nhưng phong cách tượng bên Phủ Vân nền nã và dịu dàng hơn. Nhìn chung đó là những pho tượng đẹp thể hiện hình ảnh người phụ nữ Việt Nam (đã được thần thánh hoá) với những nét dịu hiền, đoan chính nhưng cũng oai nghiêm, sắc sảo…
Lăng Bà Chúa Liễu được xây dựng vào năm 1938 bằng đá xanh trên diện tích 625m2. Lăng gồm 5 vòng đường kính vuông, mỗi cạnh dài 24m. Mỗi vòng đường đều để 4 cửa vào lăng theo 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc. Các cửa đều có trụ cổng, bên trên đặt bông sen, mặt ngoài lăng có năm vòng tường với 5 độ cao khác nhau để tạo nên những mảng sân bậc thang bao quanh phần mộ. Các vòng tường bao được chạm khắc công phu theo từng chủ đề, từng vị trí thích hợp như: Chấn song con tiện, chữ Thọ, cẩm qui, chữ Vạn nổi… Lăng mộ ở vị trí trên cùng hình bát giác, có đường chỉ viền chạy xung quanh, lại tạo thành 88 núm “vú” như 88 bông hoa chạy viền quanh mộ, tương truyền đây là hình tượng “bầu sữa mẹ”. Toàn lăng có 60 búp sen hồng trông xa xa như một hồ sen cạn. Ngoài ra, trong khu lăng còn có hai tòa phương đăng bằng đá xanh được xây dựng rất công phu. Đây là nơi đặt bàn thờ Công chúa và văn bia ca ngợi công đức của Bà.
Hằng năm, lễ hội Phủ Giầy diễn ra từ ngày 1 đến 10 tháng Ba âm lịch. Nghi thức lớn nhất và đông vui nhất ở hội Phủ Giầy là lễ rước kiệu do những người phụ nữ trung niên và các cô gái đồng trinh đảm nhiệm. Mùng 4 tháng 3 là lễ rước từ phủ Giáp Ba sang chùa Thông; mùng 5 rước từ phủ Vân Cát sang chùa Dần; mùng 6 rước từ phủ chính Thiên Hương đến chùa Gôi và ngược trở lại. Dân gian cho rằng, đám rước là biểu hiện việc quy y Phật của công chúa Liễu Hạnh. Lễ rước ngày mùng 6 là lễ lớn nhất. Ngày mồng 7 tháng Ba lễ hội có diễn trò kéo chữ gồm 100 phu cờ sau khi xếp chữ xong thì vứt gậy xuống đất gọi là hội hoa trượng. Trò diễn này do vương phi của Trịnh Tráng là Phùng Thị Ngọc Đài, vốn người bản xã đề xướng. Hội còn nhiều hoạt động văn hoá khác như hát văn, hát chèo, trống quân, hát xẩm, kéo co, chọi gà…. Vào dịp lễ hội Phủ Giầy còn có hội chợ. Đây cũng là dịp du khách được thưởng thức các món ăn ngon trong vùng.
Đền Phủ Giầy đã được công nhận Di tích Lịch sử Văn hoá quốc gia năm 1975.
NGUỒN THAM KHẢO :
http://www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=NzFDMzA4MEE&key=%C4%90%E1%BB%81n+Ph%E1%BB%A7+Gi%E1%BA%A7y&type=A0&stype=0