Gemini_Generated_Image_1dpjbg1dpjbg1dpj

Quan Hoàng Bát (Quan Hoàng Tám, Ông Hoàng Bát Nùng, Quan Hoàng Bát Nùng, Tướng quân Nùng Trí Cao) – vị anh hùng người Tày Nùng và Đền Kỳ Sâm

Tên chính xác và phổ biến nhất trong các văn bản lịch sử, sách giáo khoa và các công trình nghiên cứu là Nùng Trí Cao.
Dưới đây là lý do tại sao:
Chữ Hán: Tên của ông được viết là 儂智高.
Âm Hán Việt:
儂 (Nùng): Họ của ông.
智 (Trí): Có nghĩa là trí tuệ, khôn ngoan. Trong âm Hán Việt, chữ này đọc là “Trí”.
高 (Cao): Có nghĩa là cao thượng, to lớn. Đọc là “Cao”.
Việc viết là “Nùng Chí Cao” thường là do sự nhầm lẫn trong cách phát âm hoặc cách chuyển tự không chuẩn xác từ chữ Hán sang tiếng Việt (nhầm lẫn giữa âm “Tr” và “Ch”).
Kết luận: Để đảm bảo tính chính xác về mặt sử học, bạn nên sử dụng Nùng Trí Cao.

Ông Hoàng Bát thuộc hàng vị thứ tám trong hàng Thập Vị Ông Hoàng Tứ Phủ Linh Thiêng. Tại Cao Bằng, người ta đang thờ tụng Ông Hoàng Bát Nùng được cho là hiện thân của Ông Hoàng Bát. Ông là vị anh hùng người dân tộc Tày Nùng đã có công đuổi đánh quân Tống bảo vệ nhân dân ta.

Gemini_Generated_Image_1dpjbg1dpjbg1dpj

Ông Hoàng Bát Nùng và Ông Hoàng Bắc Quốc đều được coi là Ông Hoàng Bát Tứ Phủ

Nhắc đến Ông Hoàng Bát Nùng, nhiều người thường bị nhầm lẫn với Ông Hoàng Bắc Quốc vì hai ông đều được nhân dân xếp vào hàng Quan Hoàng Bát và đều là những vị tướng tài có thật trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, hai ông có sự tích trần thế khác nhau và hệ thống đền thờ cũng khác nhau, thực tế ông Hoàng Bắc Quốc lại là người đất Kinh Bắc và hoàn toàn không có liên hệ với ông Hoàng Bát Nùng.

Đền thờ của ông Hoàng Bắc Quốc cũng nằm tại Bắc Giang, cách xa đền ông Hoàng Bát Nùng tới tận trăm cây số. Vì thế du khách đi lễ đền Ông Hoàng Bát cần phân biệt rõ hai vị quan Hoàng này.

Quan Hoàng Bát là vị thánh hoàng thứ tám trong hàng Thập Vị Thánh Hoàng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, trước Quan Hoàng Chín Cờn và sau Quan Hoàng Bảy Bảo Hà, ngài là một nhân vật có thật trong lịch sử, là một vị tướng tài,  anh hùng dân tộc của dân tộc Tày – Nùng ở miền đất Cao Bằng thượng cổ. Chỉ có một điều giống nhau đó là hai ông đều là những vị tướng tài giỏi có thật trong lịch sử, đã từng có công lao lớn trong việc chống giặc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ bờ cõi đất nước. Do đó, nhân dân vô cùng biết ơn hai ông và nguyện xây đền lập điện thờ phụng ngàn đời để ghi nhớ công ơn này.

Tại Cao Bằng, người ta tôn thờ người anh hùng Nùng Trí Cao là Ông Hoàng Bát Nùng. Tại Bắc Giang, lại truyền tụng về truyền thuyết và đền thờ Ông Hoàng Bắc Quốc.

image

Sự tích Ông Hoàng Bát Nùng – người anh hùng dân tộc Tày

Ông Hoàng Bát Nùng có tên húy là Nùng Trí Cao. Ông là một nhân vật lịch sử có thật. Ông đã có công đánh tan giặc Tống, bảo vệ bình an cho nhân dân, được lưu danh trong sử sách. Bên cạnh đó, vị Thái Bảo Nùng Trí Cao cùng với chuyện tình đẹp của mình với người vợ Nàng Cầm miền xuôi là một dấu ấn quan trọng thể hiện tình đoàn kết giữa miền ngược và miền xuôi thời bấy giờ.

Ông được nhận hai sắc phong thuộc triều Lý và triều Nguyễn. Theo đó, triều Lý sắc phong ông là “Kỳ Sầm đại vương”, triều Nguyễn sắc phong ông là “Kỳ Sầm biên tái, bảo quốc an dân, phúc thần”.

Theo lịch sử, Ông Hoàng Bát Nùng sống vào thế kỷ thứ XI thời vua Lý Thái Tông ở châu Quảng Nguyên (Cao Bằng hiện nay). Theo “Đại Việt sử ký toàn thư“, Nùng Trí Cao là con của Nùng Tồn Phúc – thủ lĩnh châu Thảng Do (một trong “Ngũ bộ” vùng đất Cao Bằng ngày nay) và bà A Nùng.

Tháng 12 năm 1038, “Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên(1) làm phản. Nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương”(2). Thời điểm đó, Nùng Tồn Phúc chiếm châu Vũ Lặc và Quảng Nguyên, xưng “Chiêu Thánh Hoàng Đế“, lập nước “Trường Sinh“, phong vợ làm “Minh Đức Hoàng Hậu“, phong con cả Trí Thông làm “Điền Nha Vương“, đồng thời sắm sửa vũ khí, xây dựng thành trì.

Tháng 2 năm 1039, “Vua cho quân đuổi theo bắt được Tồn Phúc và bọn Trí Thông 5 người. Chỉ có vợ là A Nùng, con là Trí Cao chạy thoát. Đóng cũi bọn Tồn Phúc đem về Kinh sư, sai quân san phẳng thành hào, chiêu dụ tộc loại còn sống sót, vỗ về yên ủi rồi đem quân về.”(3) Cụ thể, vua Lý Thái Tông thân chinh đem quân đánh Nùng Tồn Phúc, bắt Nùng Tồn Phúc và Trí Thông đem về kinh đô xử tử, Nùng Trí Cao cùng mẹ chạy đến động Lôi Hỏa, phía Tây Bắc Cao Bằng (thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc ngày nay).

Năm Tân Tỵ 1041, Nùng Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa(4) lại về chiếm cứ châu Thảng Do, chiêu tập lực lượng, đổi châu ấy làm nước Đại Lịch nhưng bị lính bắt sống, đem về Kinh sư. Cùng năm đó, vua Lý Thái Tông cử một tướng ẩn danh lên thuyết phục Nùng Trí Cao không theo nhà Tống rồi Triều đình nhà Lý cử quân lên đánh, bắt Nùng Trí Cao đem về kinh đô nhưng Vua thương tình vì cha là Tồn Phúc và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha, không trị tội, cho giữ châu Thảng Do (Quảng Nguyên) như cũ, lại phụ thêm cho cai quản bốn động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang(5) nữa. Nùng Trí Cao còn được phong làm châu mục Quảng Nguyên. Bởi vì theo bản đồ, vùng đất Quảng Nguyên có vị trí chiến lược, là nơi giáp ranh giữa nhà Tống và Đại Việt.

Sau đó, theo tài liệu dân gian truyền miệng, Nùng Trí Cao được viên tướng ẩn danh đưa về kinh đô ăn học 3 năm. Gia đình vị tướng ấy cũng hết sức giúp đỡ Trí Cao. Tại đây, Trí Cao được mở rộng tầm nhìn, tiếp thu thêm nhiều kiến thức mới. Trong quá trình này, Trí Cao cũng thường xuyên qua lại với nhà viên tướng này và dần dần quen thân được con gái của ông. Thời gian trôi đi, trai tài gái sắc yêu nhau say đắm, viên tướng này cũng đồng ý gả con gái đi. Người con gái ấy thường được mọi người gọi là nàng Cầm. Năm Minh Đạo thứ 2, ngày 1/9/1043 năm Quý Mùi, vua Lý Thái Tông cử Ngụy Trưng lên châu Quảng Nguyên ban cho Trí Cao chức tước Thái Bảo (một chức quan cao cấp thời Lý) và đô ấn.
Đến Quý Mùi, Minh Đạo năm thứ 2 (1043) (Tống Khánh Lịch năm thứ 3), ông còn được nhà Lý phong làm Thái Bảo tướng quân và giao trọng trách trấn giữ, bảo vệ bình an cho vùng đất biên cương Cao Bằng.

Mậu Tý, [Thiên Cảm Thánh Vũ] năm thứ 5 (1048), (Tống Khánh Lịch năm thứ 8), “Nùng Trí Cao làm phản, chiếm giữ động Vật Ác.” (7) (thuộc đất Tống).

Năm 1050, Nùng Trí Cao chiếm động Vật Dương (thuộc đất Tống), lập nước “Nam Thiên“, đặt niên hiệu Cảnh Thụy.

Nàng Cầm cùng chồng về quê Quảng Nguyên. Trong 10 năm, nàng sinh cho Nùng Trí cao hai người con trai là Nùng Kế Tông và Nùng Kế Phong. Tuy nhiên, tại quê nhà Quảng Nguyên, nàng Cầm không phải vợ cả mà phải sống dưới thân phận vợ lẽ. Bởi trong quá trình Nùng Trí Cao học tập tại Thăng Long, người mẹ ở quê đã ghép duyên Nùng Trí Cao với Đoạn Hồng Ngọc là một cô gái xinh đẹp nhất vùng lại thuộc nhà có gia thế ở động Xuân Phách (thuộc xã Vĩnh Quang, Cao Bằng hiện nay). Tuy nhiên, Nùng Trí Cao chỉ coi cô gái này như bạn quen gần làng nhưng người mẹ lại coi nàng như dâu con trong nhà. Do đó, khi nàng Cầm xuất hiện, lại được Nùng Trí Cao che chở yêu thương, điều này khiến nàng trở thành cái gai trong mắt của cô vợ cả và người mẹ chồng. Nỗi bất hòa xảy ra thường xuyên và lớn dần. Vợ cả bị chồng lạnh nhạt sinh lòng ghen tuông nên trong lúc cả giận mất khôn mà chạy sang nhà Tống mang ý định trả thù. Quân Tống tràn sang Quảng Nguyên bắt giết nhân dân, phá hoại làng xóm. Gia đình của Đoạn Hồng Ngọc cùng Vương Lan Anh cũng không tránh khỏi cảnh giết chóc. Căm phẫn quân cướp nước, lại hối hận với lỗi lầm của mình, Đoạn Hồng Ngọc liên kết Vương Lan Anh cùng ra đầu quân cho Nùng Trí Cao, trở thành nữ tướng của ông. 

Năm 1052, nhà Tống một lần nữa đánh chiếm đất Quảng Nguyên, sai tướng Kinh lược Ung Châu là Tôn Tú đem quân sang nước ta. Tháng 4 âm lịch năm 1052, Trí Cao lãnh đạo quân dân nổi dậy đánh bật quân của Tôn Tú ra khỏi đất Việt. Thừa thắng xông lên, Trí Cao liên tục đánh chiếm rất nhiều châu trên đất Tống. Trước tình hình đó, vua Tống sợ hãi, cử ngũ hổ tướng đứng đầu là nguyên soái Tống Địch Thanh đi đánh quân của Trí Cao. Trận quyết chiến đôi bên đã khiến cả một vùng Tổng Quỷ (cánh đồng ma biên giới huyện Phục Hòa ngày nay) đẫm máu và ngổn ngang xác người. Lúc ấy, Trí Cao bị thương nặng, may nhờ anh vợ (anh trai nàng Cầm, con trai viên tướng đã giúp đỡ Trí Cao ngày còn ở Thăng Long) tiếp ứng mới thoát chết. Quân của Trí Cao bị thương vong nhiều nhưng vị tướng quân ấy cùng quân binh của mình vẫn xung trận đánh tan quân Tống. Tiếc thay, ngài cũng hy sinh anh dũng tại trận đánh ấy. Trong lúc rối loạn, quân sĩ vội vàng vùi qua loa thi thể của ông tại Ngườm Pục. Sau này, tại vùng lập chợ Háng Riềng (chợ Cách Linh) thì đã xây miếu thờ ông nay gọi là đền Quan Chẻng. 

Mùa hạ năm 1052, tháng 4, sau khi dâng biểu xin cống vua Tống không được, Nùng Trí Cao làm phản, Nùng Trí Cao đã dẫn 5000 quân tiến đánh thành Ung Châu, “tiếm xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế (Nhân Hậu Hoàng Đế), đặt quốc hiệu là Đại Nam”(8), đổi niên hiệu là “Khải Lịch“.

Năm 1053, Địch Thanh (một viên tướng của nhà Tống) dã dẫn quân đi đánh Nùng Trí Cao. Năm 1053, “Trí Cao đem quân chống đánh bị Địch Thanh đánh bại, chạy hơn 10 dặm. Tướng tâm phúc của Cao là Hoàng Sư Mật cùng với thủ hạ 57 người chết tại trận. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2200 người. Trí Cao đốt thành ban đêm trốn đi(9). Mùa đông, tháng 10, Trí Cao sai Lương Châu đến xin quân cứu viện. Nhà Lý xuống chiếu sai chỉ huy sứ Vũ Nhị mang quân tiếp ứng. Địch Thanh lại đánh phá được Trí Cao. Khi ấy nhờ con ngựa thiên lý mã Long Cư mới có thể bơi qua sông gặp mẹ mới biết rằng do chủ trương của mẹ không cho quân miền xuôi tiếp viện. Trí Cao cùng gia đình của mình đã lặng lẽ trốn qua Đại Lý. Người nước Đại Lý chém đầu Nùng Trí Cao bỏ vào hòm dâng vua Tống. Tình thế không cứu vãn nổi nên cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao chấm dứt. Từ đây họ Nùng bị diệt. 

Sau này, khi Nùng Trí Cao mất, dân chúng đã tìm thấy ấn Thái Bảo để lại và lập nên đền thờ ở đỉnh Khau Sầm. Về sau, nhân dân mới di dời đền xuống chân núi cạnh làng Bản Ngần, chính là ngôi đền Kỳ Sầm ngày nay.

Trận chiến diễn ra tại sông Bắc Vọng khiến dòng sông đục ngầu màu máu. Nàng Cầm vì nhảy xuống sông tham chiến mà cũng bị địch bắt đi mất. Ngày nay đoạn sông này người ta gọi là Hắt Pắt (ngầm ý rằng nơi nàng Cầm bị bắt đi). 

ông hoàng bát nùng
Đền Kỳ Sầm

Có thể nói: Tướng Quân Nùng Trí Cao là một thánh quan có chí khí và khí phách vô song. Ngài đã nhiều lần đánh chiếm đất của nhà Tống (Trung quốc) để lập một nước riêng. Một vị tướng người thiểu số đã nhiều lần khiến vua quan nhà Lý khốn đốn và nể phục. Nhà Lý cũng đã có lần bắt được ông, nhưng rồi lại thả và phong thêm chức sắc. Đây là một trang lịch sử thực sự tự hào về một vị tướng lỗi lạc đã từng nhiều lần làm cho nhà Tống điêu đứng.

Mặc dù do những hạn chế tất yếu, nhưng cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao đã chứng tỏ ý chí quật cường của các dân tộc thiểu số vùng biên giới chống lại các cuộc xâm lược của nhà Tống, góp phần bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc. Hình ảnh nửa thực, nửa huyền thoại của Nùng Trí Cao đã in sâu trong tâm thức của nhiều dân tộc anh em như: Người Tày, người Nùng, Cờ Lao, La Chí… Phạm vi ảnh hưởng của Nùng Trí Cao không chỉ bó hẹp trong địa bàn tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang… mà còn ở một số nước láng giềng như: Trung Quốc, Thái Lan, Myanma… Nùng Trí Cao được coi là biểu tượng của thánh thần, anh hùng văn hóa

Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, ngoài di tích đền Kỳ Sầm, nhiều địa phương cũng có đền thờ Nùng Trí Cao như: Huyện Quảng Uyên, huyện Hà Quảng , huyện Thông Nông, huyện Bảo Lạc.

Đền chính thờ ông Hoàng Bát Nùng hiện tại là đền Kỳ Sầm, thuộc địa phận bản Ngần, xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Khu đền khá rộng, khuôn viên khá đẹp. Khu nhà đền chỉ có 2 cung nhỏ tạo nên một sự tĩnh mịch, linh thiêng, huyền bí. Cung phía trước là cung công đồng thờ quan, quân của Ngài. Cung phía sau thờ Ngài và Thân Mẫu cùng 3 bà vợ. Tương truyền ba bà là người Hoa, Kinh và Nùng.

Dâng lễ Ông Hoàng Bát Nùng cần chú ý gì?

Thông thường, cứ vào những ngày lễ tiết lớn trong năm, nhân dân lại kéo nhau về đền thờ Ông Hoàng Bát Nùng để thắp nén hương, dâng mâm lễ vật, cầu ngài ban tài tiếp lộc phù hộ cho gia quyến được bình an, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi, tốt tươi. 

Một mâm lễ sắm dâng Ông Hoàng Bát Nùng bạn cần chú ý sắm đủ một đĩa hoa, một đĩa quả nhiều loại quả, một đĩa trầu cau, thẻ hương, giấy tiền và một cánh sớ.

Trong những ngày lễ lớn của đền, nhiều con hương thường muốn dâng tiến những lễ vật đẹp, sang mang ý nghĩa tốt đẹp để có thể bày trên ban thờ thánh trong thời gian dài, bày tỏ lòng tôn kính. Khi ấy, Oản Tài Lộc chính là lễ vật phù hợp nhất. Bởi oản được thiết kế tỉ mỉ đẹp sang, mang ý nghĩa tài lộc tốt lành lại có thể để được tới 6 tháng không bị hỏng mốc, cực thích hợp bày trên ban thờ thánh.

image

Hầu giá Ông Hoàng Bát Nùng

Ông Hoàng Bát Nùng ít khi về ngự đồng. Chỉ những người mang căn lục bộ mới có thể hầu Ngài.

Khi về ngự đồng, Ông Hoàng Bát Nùng thường mặc y phục màu vàng, khăn mỏ rìu, mặc áo trấn thủ, đi ghệt chân ghệt tay, mạng chéo, làm lễ tấu hương, khai quang, múa đôi trùy đồng (múa cờ, kiếm) và múa võ. Khi ngự đồng ông cũng hút tẩu và thuốc cuốn. 

Thái Bảo Nùng Chí Cao là một biểu tượng dũng tướng của Việt nam và là niềm tự hào của người dân Cao Bằng. Chính tiệc là ngày mùng 10 tháng Giêng hàng năm.

Quan Hoàng Bát Nùng là một trong các thánh hoàng rất ít khi về ngự đồng. Chỉ những người mang căn lục bộ, mang nặng căn của Quan mới có thể hầu Ngài.

Đền Kỳ Sầm 

Đền Kỳ Sầm thờ Khau Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao tại Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng. Nhiều người cho rằng Quan Hoàng Tám có giáng trần và đó chính là Khau Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao. Cũng có nhiều người cho rằng Quan Hoàng Tám không giáng trần và không có đền thờ chính. Tuy vậy, người viết cũng mạnh dạn viết đôi nét về Tướng quân Nùng Trí Cao để mọi người tham khảo.

Đền Kỳ Sầm được nhân dân xây dựng để thờ phụng vị anh hùng Nùng Trí Cao hay Ông Hoàng Bát Nùng tại Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An (năm 2020 đã sáp nhập vào thành phố Cao Bằng). Đền cách trung tâm thị xã Cao Bằng khoảng 5km. 

Ngôi đền cổ kính nằm trên một thế đất cao, bao quanh là những cây cổ thụ cao ngút trời xanh. Khuôn viên sân đền được lát toàn bộ bằng đá viên mặt phẳng. 

Ngôi đền chính được xây dựng đơn giản không tô vẽ cầu kỳ nhưng vẫn toát lên vẻ bề thế uy nghiêm. Bên trong, tại chính cung thờ Ông Hoàng Bát Nùng.

ông hoàng bát nùng
Đền chính đền thờ Ông Hoàng Bát Nùng

Hàng năm cứ đến ngày mùng 9, 10 tháng Giêng đền Kỳ Sầm lại mở lễ hội. Vừa là để ghi nhớ công ơn vị anh hùng Nùng Trí Cao khi xưa, vừa là dịp để làm lễ cầu năm mới mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi. Lễ hội đền Kỳ Sầm cũng được coi là điểm nhấn văn hóa thu hút rất nhiều du khách ghé thăm tại tỉnh Cao Bằng hàng năm.

Theo đó, 12h đêm giao ngày mùng 9 và mùng 10 âm lịch, dân làng sẽ mặc y phục truyền thống chỉnh tề tập trung trước đền và làm lễ tại đây. Chủ lễ sẽ là các cụ cao niên có uy tín trong làng. Cùng với tiếng trống, tiếng chiêng, buổi lễ được diễn ra trong không khí cực kỳ trang nghiêm. Đến sáng ngày mùng 10, đền chính thức mở hội đón khách hành hương từ khắp các tỉnh thành về cúng lễ đền. Trong làn khói hương nghi ngút, hàng vạn khách hành hương về đền thành tâm cúng lễ chắp bái khẩn cầu chật kín sân đền.

Cũng trong sáng ngày mùng 10, phần hội đền Kỳ Sầm được tổ chức cực kỳ sôi nổi cạnh đền. Phần hội được tổ chức nhằm tái hiện lại không gian văn hóa xưa của người dân tộc Tày với những trò chơi dân gian như đấu vật, múa lân, múa rồng, ném còn, … Hội đền Kỳ Sầm được diễn ra trong không khí vui tươi phấn khởi, thu hút không ít khách du lịch thập phương hứng khởi tham gia. 

Lộ trình di chuyển đến đền Kỳ Sầm 

Đền Kỳ Sầm Vĩnh Quang Cao Bằng nằm tại Bản Ngần, từ Hà Nội bạn có thể di chuyển đến đền bằng xe khách hoặc phương tiện di chuyển cá nhân.

Nếu đi bằng xe khách, bạn đến bến xe Mỹ Đình và bắt chuyến xe đi Ngọc Xuân giá vé khoảng gần 200 000đ. Đến điểm dừng, bạn bắt xe ôm hoặc taxi đến đền.

Nếu đi bằng ô tô hoặc xe máy bạn đi theo QL4A – 284km – 5h34p: rời Hà Nội bằng đường cầu Vĩnh Tuy đi theo QL1A nối vào QL37/cao tốc Bắc Giang Lạng Sơn – tiếp tục nối vào QL1A – đường Pác Bó thành phố Cao Bằng nối vào đường 203/204 – vào đền.

đền kỳ sầm
Lộ trình di chuyển bằng xe cá nhân

Bản văn Ông Hoàng Bát Nùng

Gương anh dũng ngàn xưa lưu để

Đất Cao Bằng tú khí chung linh

Trời nam có đức thánh linh

Họ Nùng đệ bát hùng anh tuyệt vời 

Giận bạo chúa bao đời áp bức

Thù ngoại xâm Tống giặc cường hung

Thề rằng không độ trời chung,

Tuốt gươm quét sạch thù trong giặc ngoài.

Dù trăm trận mưa rơi sấm giật

Đôi trượng đồng dạy đất trời long

Bát Nùng nối nghiệp gia phong

Noi gương tiên tổ – họ Nùng – Trí Cao.

Ông Bát Nùng ra vào sinh tử

Trượng tung bay tuyết phủ hoa khai

Sá gì đạn lạc tên rơi

Trên đời hồ dễ mấy ai anh hào.

Thân bách chiến ra vào sinh tử

Đôi thần trùy nhẹ tựa hồng mao

Trần hoàn nhẹ gánh gian lao

Cõi trời do sổ Thiên Tào có tên.

Rước ông Bát về miền tiên giới

Đất Cao Bằng nhớ lại công ơn

Nhân dân thờ phụng khói hương

Nhớ người tráng sĩ hiên ngang anh hùng.

Thưở niên thiếu kiếm cung yên ngựa

Sinh vì đời, thác trợ muôn dân

Oai linh lẫm liệt thánh thần

Một lòng vì nước vì dân vì đời.

Gương anh khí sáng ngời muôn thuở

Trí hào hùng rạng rỡ non sông

Vinh quang thay giòng giống Lạc Hồng

Ngàn thu còn nhớ ông Bát Nùng Trí Cao

Thơ Lý Bạch anh hào ví sánh

Rượu Lưu Linh buồn tính vui say

Thừa nhàn bạch định thiên khai

Cờ thiên đế thích mộ tài tri âm

Kèn sáo trúc bổng trầm họ Lá

Lục huyền cầm Tử Bá nam xuân

Liên tâm ba chén tẩy trần

Thanh hương bình ngọc kỳ trân đượm mùi

Hồn quốc túy ấm lòng quân tử

Thú yên hà duyên nợ núi sông

Ngàn xưa tuyết nguyệt hoa phong

Thuốc lào Tiên Lãng ấm lòng thế gian

Khói thoảng ngát hương lan thú thảo

Thú phong lưu Vĩnh Bảo – Hải Đông

Sập vàng điếu ống thung dung

Ngự về trần thế đèn lồng kiệu hoa

Ai thành kính tại gia phụng sự

Thỉnh Ông về giá ngự đền trung

Xưa nay tắc tự hữu công

Dâng văn kính thỉnh Ông Bát Nùng Trí Cao.

Chú thích

  1. Quảng Nguyên: tên châu thời Lý, thời thuộc Minh thuộc về đất Uyên huyện, thời Lê đổi là châu Lộng Nguyên. Nay là đất các huyện Quảng Uyên, Phúc Hòa, Thạnh An, tỉnh Cao Bằng. 
  2. Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr. 96.
  3. https://chonthieng.com/nhan-vat/ong-hoang-bat-nung/
  4. Lôi Hỏa: tên động, ở phía tây bắc tỉnh Cao Bằng ngày nay. Các động Bình, An, Bà đều thuộc về đất tỉnh Cao Bằng.
  5. Tư Lang: nay là đất huyện Trùng Khánh và phần đất đông bắc huyện Quảng Hòa (vùng quanh Hạ Lang), tỉnh Cao Bằng.
  6. Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr. 99.
  7. Động Vật Ác: ở phía tây tỉnh Cao Bằng.
  8. Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr.103.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Optimized by Optimole