Image

Quan Hoàng Đôi (Ông Hoàng Đôi) | Quan Lớn Đệ Thập | Triệu Tường

      Quan Hoàng Đôi, còn gọi là Quan Hoàng Đôi Triệu Tường, Quan Hoàng Triệu Tường. Quan Hoàng Đôi có hai đền chính là Đền Triệu Tường ở chân núi Triệu Tường ở thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa là Đền Hoàng tại bờ sông Hồng thuộc Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.

Quan Triệu Tường là ai?

       Theo truyền thuyết của  tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam Quan hoàng Triệu Tường là con của Vua cha Ngọc Hoàng được sai xuống trần đầu thai vào làm con trai nhà họ Nguyễn ở đất Thanh Hóa. Ngài là một vị tướng toàn tài, hay kinh sử, nhuần binh thư. Ngài là một vị trung thần thời Lê có nhiều công lao trong việc \”Phù Lê diệt Mạc\” và mở mang bờ cõi nước Nam. Ông Hoàng Triệu đứng thứ hai trong Tứ Phủ Quan Hoàng.

Chúa Tiên Nguyễn Hoàng

      Theo các sách “Đại Việt sử ký toàn thư” và “Đại Nam thực lục” và các nghiên cứu của giáo sư sử học Trần Quốc Vương, Giáo sư Ngô Đức Thịnh thì Quan Hoàng Triệu chính là Nguyễn Hoàng – Thủy tổ của 9 đời Chúa Nguyễn và 13 đời vua Nguyễn.

       Nguyễn Hoàng là người Gia Miêu, Hà Phong, Hà Trung, Thanh Hóa ngày nay. Ngài sinh năm Ất Dậu 1525, là con trai thứ hai của một công thần triều Lê là Nguyễn Kim. Khi Nguyễn Hoàng được hai tuổi, Mạc Đăng Dung cướp ngôi của nhà Lê. Trong số các trung thần nhà Lê chạy sang những nước láng giềng lánh nạn, chờ cơ hội thuận lợi sẽ kéo quân trở về phục hận cho nhà Lê, có quan Hữu Vệ Điện Tiền Tướng quân An Thanh Hầu Nguyễn Kim. Ông chính là cha đẻ của Nguyễn Hoàng.
      Khi chạy sang Ai Lao, Nguyễn Kim được vua Xạ Đẩu giúp đỡ, cho mượn đất Sầm Châu để dựng bản doanh, chiêu mộ quân binh phù Lê diệt Mạc. Được tạo điều kiện thuận lợi, Nguyễn Kim lập tức tìm kiếm con cháu nhà Lê để lo việc khôi phục. Cuối cùng, ông đã tìm được Hoàng thất Lê Duy Ninh, tôn lên làm vua, hiệu là Lê Trang Tông.
      Vua Lê Trang Tông đã giao hết binh quyền cho Nguyễn Kim và phong ông làm Thái sư, tước Hưng Quốc Hầu. Dưới trướng Nguyễn Kim quy tụ nhiều tướng trẻ tài ba, nổi bật lên cái tên Trịnh Kiểm, sau này trở thành con rể của ông.
       Với sự phò tá hết mình của Nguyễn Kim và quân sĩ, thế lực nhà Lê đã áp đảo họ Mạc. Trước tình thế này, Quan Tổng Trấn nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đã dùng ngụy kế, xin hàng, giả vờ thuần phục, lấy được lòng của vua Lê và qua mặt Nguyễn Kim. Vị trung thần Nguyễn Kim không thể ngờ kẻ bá vai chén tạc chén thù với mình đã ra tay hạ độc, khiến ông chết trong đau đớn.
      Vua Lê Trang Tông không có người nối dõi,  mọi quyền hành của nhà Lê đều nằm gọn trong tay Trịnh Kiểm. Khi Lê Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập cháu 4 đời của vua Lê Lợi là Duy Ban làm vua Lê Anh Tông. Lúc này, con trai trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông đã được phong Tả Tướng. Những người thân tín của Nguyễn Kim tính đến khả năng chuyển giao quyền hành lại cho Nguyễn Uông. Vì thế, Nguyễn Uông  đã trở thành cái gai trong mắt Trịnh Kiểm.
     Một hôm, Nguyễn Uông bỗng nhiên lăn đùng ra chết. Người em Nguyễn Hoàng linh cảm đây là một âm mưu diệt cỏ tận gốc, ông lo ngại bản thân mình sẽ là đối tượng bị hạ sát tiếp theo của màn kịch chính trị, Nguyễn Hoàng liền bí mật sai người tới hỏi Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm về kế sách giữ mình. Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ ngắm hòn non bộ và ngâm:

“Hoành Sơn nhất đái,Vạn đại dung thân”

    Nghĩa là một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời. Người thân cận khi về chỉ kể lại như vậy. Hiểu ý, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái là Ngọc Bảo nói với Trịnh Kiểm tâu lên vua Lê để xin vào trấn đất Thuận Hóa.
       Sau chuỗi ngày dong duổi, đoàn quân Nam tiến dừng chân ở cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt). Cũng chính nơi đây, Nguyễn Hoàng đã cho quân binh của mình đóng trại ở Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
      Miền đất Thuận Hóa lúc bấy giờ hoang sơ, nguyên bản, và nghèo nàn, tạo điều kiện cho bọn cướp biển, giặc cỏ hoành hành. Không những thế, Nguyễn Hoàng còn phải đối mặt với các lực lượng  quân nhà Mạc, Chiêm Thành, Chân Lạp thường xuyên đánh phá. Chinh phục mảnh đất này quả là một thử thách lớn với Nguyễn Hoàng.
       Thế nhưng, ngày từ lúc mới đặt chân đến đây, Nguyễn Hoàng đã hội tụ được yếu tố “nhân hòa”:  Lưu thủ Thuận Hóa – Tống Phướng Trị đã tìm đến để vái chào Nguyễn Hoàng , và dâng lên cho Nguyễn Hoàng bản đồ và sổ sách trong xứ, xin được một lòng phò tá. Nhân dân địa phương cũng hết sức vui mừng khi hay tin có một vị quan lớn vào trấn thủ xứ sở của mình, nên đã đón tiếp quan Trấn thủ vô cùng trọng thể. Từ đây, Nguyễn Hoàng được tôn xưng ở ngôi vị Chúa Nguyễn.
       Với quyết tâm cải hóa miền đất này, vị chúa Nguyễn đầu tiên đã có những chính sách rất hợp lí nhờ tài tổ chức của mình và sự giúp sức của các quan dưới trướng, đặc biệt là Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.
       Nguyễn Hoàng đã cho dân tự do khai hoang lập hóa. Người nào khai khẩn được bao nhiêu thì được quyền sở hữu đất ấy, và cũng chính nhờ vào chính sách khuyến khích cùng với sự giúp đỡ của chính quyền trong việc khai hóa đất đai mà lãnh thổ dần dần được rộng. Năm 1597, Nguyễn Hoàng  cử Lương Văn Chánh dẫn đầu đội ngũ khoảng 4000 lưu dân vào khai khẩn vùng đất từ đèo Cù Mông (Bắc Phú Yên) đến đèo Cả (Bắc Khánh Hòa). Chuyến khai hoang này hình thành nên những làng mạc đầu tiên trên châu thổ sông Đà Diễn, sông Cái.
       Đồng thời, Nguyễn Hoàng cũng chú trọng việc chiêu mộ hiền sĩ. Ông còn giảm bớt gang nặng cho dân bằng cách giảm thuế, việc sai dịch cũng được hạn chế tối đa, chỉ trừ những trường hợp thực sự cấp bách.

Nguyễn Hoàng và các cuộc chiến sát nhập vùng đất mới

    Năm 1578, Chiêm Thành cất quân đến quấy nhiễu, vâng lệnh chúa Nguyễn Hoàng,  Lương Văn Chánh mang quân tiến đến sông Đà Diễn, Hoa Anh đánh chiếm thành An Nghiệp, là một trong những kinh thành đồ sộ và kiên cố nhất trong lịch sử Chăm Pa.

Bản đồ Việt Nam vào thời Nguyễn Hoàng năm 1611

      Năm 1611, Chiêm Thành tiếp tục càn quấy vùng biên giới Hoa Anh. Lần này,  chúa Nguyễn cử tướng Văn Phong đi dẹp. Vua Chiêm Thành-  Po Nit thua trận phải rút quân xuống phía Nam đèo Cả. Kết quả là Hoa Anh trở thành phủ Phú Yên gồm hai huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân được sáp nhập vào nước Nam.
     Còn một khu vực “nóng” được bổ sung vào quỹ lãnh thổ không thể không nhắc đến đó là quần đảo Hoàng Sa. Lịch sử không ghi chép rõ thời gian, chỉ biết hai gia tướng người Việt gốc Chăm của Tĩnh Công Nguyễn Kim là Vũ Thì An và Vũ Thì Trung đã giúp Nguyễn Hoàng chiếm hữu Bãi Cát Vàng (tên gọi thời đó của Hoàng Sa)
      Còn các vùng đất miền nam ngày nay của nước Nam Bàn và Chân Lạp (Campuchia) là do các chúa Nguyễn đời sau chinh phạt mà sáp nhập.
     Năm 1613, Chúa tiên Nguyễn Hoàng lâm bệnh nặng, ông cho gọi người con thứ sáu của mình là Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam về để kế vị và căn dặn:
 \”Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía nam. Đất Thuận Quảng này phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời\”.

Mộ Nguyễn Hoàng ở Lăng Trường Cơ

          Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Thuận Quảng 40 năm, thọ 89 tuổi, vua Lê ban tước Cẩn nghĩa công, thụy là Cung Ý. Ban đầu mộ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng táng ở vùng núi Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong(nay thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị), về sau được cải táng lăng mộ chuyển về Núi La Khê tức Khải Vận Sơn (nay thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ban đầu Chúa Tiên Nguyễn Hoàng được thờ tại Chùa Long Phước (nay thuộc huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị), về sau được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên phối thờ cùng Tĩnh Công Nguyễn Kim tại Chùa Thiên Mụ ở Phú Xuân (nay là Thành phố Huế) Năm 1804, vua Gia Long (1780 – 1820) cho dựng Thái Miếu rộng mười ba gian để thờ các Chúa Nguyễn và các công thần đời trước, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng Hoàng hậu được thờ ở chính giữa. Vua Gia Long hoàng đế nhà Nguyễn truy phong cho Nguyễn Hoàng miếu hiệu là Thái Tổ, thụy hiệu là Triệu Cơ Tùy Thống Khâm Minh Cung Úy Cần Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ hoàng đế và miếu hiệu là Thái Tổ.

      Công lao của Quan Hoàng Đôi Triệu Tường

      Quan Hoàng Triệu Tường chính là Nguyễn Hoàng, thủy tổ của các các Chúa Nguyễn và các Vị Vua Nguyễn. Ngài là vị nhân thần có nhiều công lao trong sự nghiệp xây dựng và mở mang bờ cõi mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc thành lập Vương triều Nhà Nguyễn trải qua 13 đời vua.

Tượng Quan Triệu Tường tại Đền Quan Liên Mạc

       Nhà Nguyễn, bao gồm cả các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn, đã để lại một di sản lớn lao nhất cho dân tộc là một giang sơn đất nước trải rộng trên lãnh thổ thống nhất từ Bắc chí Nam, bao gồm cả đất liền và các hải đảo trên biển Đông.

        Trên lãnh thổ đó là một di sản văn hóa đồ sộ bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới từ 11/12/1993 và đến ngày 07/11/2003 Nhã nhạc cung đình Huế lại được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hội An cũng là một cảng thị tiêu biểu và khu di tích phố cổ Hội An cũng đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào ngày 04/12/1999. Chưa có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hóa được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy.

       Khi sinh thời Ngài là một vị tướng lĩnh, một vị quan lớn, một vị Chúa tài năng, đức độ, trí dũng song toàn có nhiều công lao to lớn và căn bản với đất nước. Khi mất Ngài là một vị Nhân thần anh linh luôn phù hộ cho nhân dân và xã tắc, đó là Quan Hoàng Triệu Tường – ngài Nguyễn Hoàng, đức Thái tổ Gia dụ Hoàng đế, vị Chúa và là vị Nhân thần mãi trường tồn trong đời sống tâm linh của nhân dân và luôn được khắc ghi những công lao to lớn của Ngài trong lòng dân tộc Việt Nam.

 Như vậy, có thể nói Quan Hoàng Đôi là vị thánh, là vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.

      Trong suốt 55 năm cai trị, Ngài luôn biết nhẫn nhịn để chờ đợi thời cơ để lập chí lớn, gây dựng cơ nghiệp lâu dài để lại cho con cháu mai sau. Ngài vừa là một vị tướng mưu lược kiệt xuất, vừa là một vị Chúa khôn ngoan có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng và lo phát triển kinh tế, mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía nam để tạo nên một nước Việt Nam rộng lớn và hùng mạnh ngày nay.

         Ngài là người có tầm nhìn của một nhà chiến lược xuyên thế kỷ: Ngài hướng ra Bắc mong khôi phục nhà Lê, hướng vào Nam để mở mang bờ cõi; hướng ra các đảo trên biển Đông xác lập chủ quyền quốc gia; mở mang giao thương quốc tế, lập nên các khu thương mại tự do để làm cho Đàng Trong giầu mạnh; tin dùng người hiền tài, vỗ về khoan thư sức dân cho nên Ngài được dân chúng Thuận Quảng cảm mến, thường gọi Ngài là Chúa Tiên.

      Lịch sử Đền Quan Triệu Tường Thanh Hóa

       Đền Triệu Tường, còn gọi là Đền Quan Triệu hay đền Đức Ông. Trải qua những thăng trầm của thời cuộc, ngôi đền đã bị tàn phá vào những năm 1960. Toàn bộ kiến trúc và những giá trị lịch sử – văn hóa đi theo của ngôi đền đã bị phá hủy hoàn toàn. Ngôi đền được phục dựng lại vào những năm 1990, nhưng những giá trị văn hóa trong ngôi đền cũ đã mãi mãi mất đi khó có thể tìm lại được, một trong những giá trị đó là những thần phả, thần tích và sắc phong nói lên lịch sử ngôi đền và tiểu sử, công tích của Quan Hoàng Triệu Tường.

Đền Quan Triệu Tường Thanh Hóa

      Như vậy, đền Triệu Tường Thanh Hóa là nơi quê hương của Ngài và đươc gắn liền với vùng đất Ngài được phong công, phong chức của vua Lê.

       Truyền thuyết Đền Quan ở Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Theo truyền thuyết: Sau khi, Nguyễn Hoàng đánh đuổi nhà Mạc đến vùng bờ sông Liên Mạc (nay là đất đền Quan Hoàng). Nhà Mạc thua trận, Vua Mạc cùng quần thần, quân lính đã tháo chạy qua sông. Nhưng quân của Nguyễn Hoàng không đủ thuyền bè để đuổi theo, Ngài liền cho quân lính đóng trại lại tại đó. Một mặt, lo tiếp ứng thuyền bè, một mặt lo luyện tập binh sĩ, chuẩn bị quân lương để huyết chiến với quân quan nhà Mạc. Sau khi chuẩn bị xong, Nguyễn Hoàng cùng đoàn quân quan vượt sông và tử chiến với quân nhà Mạc tại vùng xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội ngày nay. Theo truyền thuyết tại xã Nam Sơn đã xẩy ra một cuộc chiến đẫm máu và cam go. Quân quan nhà Mạc đã anh dũng chiến đấu dưới sự lãnh đạo của 18 vị Quận Công và cầm chân được quân của Nguyễn Hoàng để vua quan nhà Mạc kịp trốn chạy về Cao Bằng. Biết đoàn di đô của vua nhà Mạc đã trốn chạy an toàn, biết không thể chiến đấu được nữa, quân lính trung thành với vua Mạc và cùng với 18 vị Quận Công đã tuẫn tiết xuống hồ Hàm Lợn. Nay ven hồ Hàm Lợn còn một ngôi đền nhỏ thờ 18 vị Quận Công anh dũng.

Mái Lầu Bát giác tại Cung Mẫu tại Đền Quan Hoàng Liên Mạc

       Như vậy, Đền Quan Hoàng ở Liên Mạc được gắn liền với cuộc chiến đấu \”Phù Lê diệt Mạc\” của Nguyễn Hoàng. Sau khi chiến thắng tại Nam Sơn, quân Nguyễn Hoàng đã đuổi nhà Mạc đến tận đất Cao Bằng. Với chiến công này Nguyễn Hoàng được vua Lê phong công, phong tước.

        Lịch sử đền Quan Hoàng ở Liên Mạc

       Đền Quan Hoàng Triệu ở Liên Mạc còn được gọi là Đền Quan Hoàng Triệu Chèm, nhưng thường được gọi tắt là Đền Hoàng. Theo thông tin của Đạo lưu (pháp sư) Nguyễn Thành Công của nhà đền thì ngôi đền này được xây dựng từ rất xa xưa, nhưng từ bao giờ thì không rõ. Thủ nhang hiện nay là bà Phạm Thị Xuân đã ba đời quản lý ngôi đền này. Trước đây, vào thời bà nội của bà Phạm Thị Xuân là thủ nhang, ngôi đền còn đơn giản lắm, chủ yếu là tranh nứa lá. Sang đời bố của bà là ông Phạm Văn Hải ngôi đền được tu bổ khang trang bằng nhà gỗ. Tuy nhiên, vào những năm 80 của thế kỷ 20, ngôi nhà gỗ bị mối mọt. Cụ Hải đã cùng bà con phát tâm công đức xây dựng lại ngôi đền bằng gạch và bê tông. Ngôi đền khi đó gồm có 4 cung: Ngoài cùng là cung thờ phật, cung thứ hai là cung Công đồng tứ phủ, cung thứ ba là cung Quan Hoàng Triệu và Đức Thánh Trần, cung cuối cùng là cung thờ Mẫu.

Khung cảnh Đền Quan Hoàng Triệu ở Liên Mạc

       Vào năm 2008 đến năm 2010, dưới sự là quyết tâm của Đạo lưu Nguyễn Thành Công và Thủ nhang Phạm Thị Xuân cùng các bản hội, con nhang, đệ tử đã cho bỏ cung Mẫu cũ để xây dựng thành cung Mẫu mới uy nghi, tố hảo lên rất nhiều lần.

Mặt trước Đền Quan Hoàng Triệu tại Liên Mạc

       Hiện nay, đền Mẫu có cung: Cung bên phải là cung Sơn Trang, bên trái là cung thờ Chầu bà Thủ đền, Tam Tòa Chúa Bói và Bà Chúa Kho.

Sự lung linh của cung Mẫu tại Đền Quan Liên Mạc

      Cung ở giữa hiện phối thờ như sau: Trên cùng và trong cùng là Phật Bà Quan Âm, tiếp theo là Tam Tòa Thánh mẫu, Mẫu Cửu Trùng Thiên.

Đền Thờ Mẫu tại Đền Quan Hoàng Liên Mạc

      Phía trước, mặt đền hướng nhìn ra sông Hồng là lầu Bát Giác ở trên cao đặt tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá trắng được đẽo gọt từ Đà Nẵng.

Dòng sông Hồng thơ mộng phía trước của mặt cung Mẫu

        Nghe nói, đây là ngôi tượng được một đệ tử cung tiến. Đệ tử này, có một thời làm ăn rủi ro, khó khăn đã đến cầu xin Ngài phù hộ để vượt qua khó khăn và đã được toại nguyện mỹ mãn.

Đạo Lưu Nguyễn Thành Công và tượng Phật Bà Quán Âm tại Lầu Bát Giác.

Thay cho lời kết

      Nguyễn Hoàng là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, đó là tướng tài đầy mưu trí, kiến thức uyên sâu, văn võ song toàn, chí khí vĩ đại; một vị chúa anh minh, biết trọng dụng hiền tài, biết đến lợi ích muôn dân. Dưới sự cai trị của ngài thông thương trong nước và nước ngoài đều được phát triển. Nhờ có Người, nhờ tài thao lược của Người và con cháu của Người đất nước chúng ta mới được mở mang rộng lớn như hôm nay. Ngài được phong thánh trong Tứ Phủ và được coi là hiện thân giáng trần của Quan Hoàng Đôi. Đền của Ngài rất thiêng cho những ai cầu công danh, sự nghiệp, thi cử học hành, kinh doanh. Rất tiếc rằng, do sự nhạy cảm về lịch sử (xâm lấn đất đai nước khác) nên các đền của Ngài chưa được nhà nước quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, với những người hiểu lịch sử thì luôn coi Ngài là vị thánh anh linh và linh thiêng bậc nhất trong Tứ Phủ Quan Hoàng. 

 Cũng xin lưu ý thêm: Có tài liệu ghi hiện thân của Quan Hoàng Đôi là Nguyễn Hoàng Triệu là không đúng. Có lẽ sự nhầm lẫn này là do Nguyễn Hoàng sinh ra ở Triệu Tường nên hay gọi là Quan Hoàng Triệu nên lầm tưởng ông tên là Hoàng Triệu. 

===================

Quan Triệu Tường được cho là hình ảnh của Quan Lớn Đệ Thập – một trong mười vị tướng của Vua Cha Bát Hải Động Đình trong tín ngưỡng Tứ Phủ. Ông được tôn là Quan thứ 10 trong hàng Lục Phủ Tôn Ông và hay được thỉnh đến sau hàng Ngũ Vị Tôn Quan.

NỘI DUNG [ẩn]

Lịch sử về cuộc đời Quan Triệu Tường 

Hiện thân của Quan Triệu Tường được cho là ngài Nguyễn Hoàng là người Gia Miêu, Hà Phong, Hà Trung, Thanh Hóa. Ông là con trai thứ hai của một công thần triều Lê. Phụ thân Nguyễn Hoàng – ngài Nguyễn Kim (Cam) là người có công lớn trong tôn lập Trang tông Dụ hoàng đế húy là Ninh lên ngôi năm 1533, mở đầu kỷ nguyên Lê Trung Hưng và được vua Lê tôn làm Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công. Sau này được triều Nguyễn tôn là Triệu tổ Tĩnh hoàng đế.

Xem thêm: Đền thờ và thần tích Quan Lớn Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm? Kinh nghiệm dâng lễ đền thờ Quan Lớn

Sau khi phụ thân và anh trai bị đầu độc chết, Nguyễn Hoàng đã hỏi Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm về kế sách giữ mình. Trạng nói:

“Hoành Sơn nhất đái

Vạn đại dung thân” 

Đại ý chỉ vùng đất tại dãy núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời.

quan lớn đệ thập

Nghe lời khuyên của Trạng mà tâu vua Lê xin trấn thủ vùng đất Thuận Hóa cùng những người nghĩa dũng cùng quê. Từ nơi đây, Nguyễn Hoàng và các con cháu đã có công mở mang bờ cõi nước Nam từ Quảng Bình đến tận mũi Cà Mau với mục tiêu thống nhất đất nước. Ngoài ra, Ngài cũng góp công lớn cầm quân đánh giặc truy đuổi quân giặc tới tận vùng Cao Bằng để “phù Lê diệt Mạc”. 

Là vị tướng mưu lược, có tầm nhìn xa trông rộng và hết mực tin dùng người tài và khoan thư sức dân, Nguyễn Hoàng đã dốc sức dốc tâm để xác lập chủ quyền biển đảo, mở mang giao thương quốc tế cũng như xây dựng các khu thương mại tự do để nâng cao nền kinh tế,… Có thể nói, công lao của Ngài đã gây dựng cơ nghiệp lâu dài cho con cháu về sau, đồng thời  tạo tiền đề để Vương triều nhà Nguyễn khi đó phát triển và lớn mạnh với 13 vị vua. Qua sự trị vì của nhà Nguyễn, giang sơn đất Việt thống nhất từ Bắc vào Nam và giữ vững được quyền lãnh thổ các hải đảo trên biển Đông.

Ngài được triều Nguyễn suy tôn là Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế. Ngài cũng luôn sống mãi trong tiềm thức tâm linh của người Việt là vị Chúa, vị Nhân thần đáng kính muôn đời.

Quan Triệu Tường được đồng nhất với Quan Lớn Đệ Thập

Trong vùng Thanh Hóa, một số nơi đồng nhất Quan Triệu Tường là Ông Hoàng Đôi (Quan Hoàng Đôi). Điều này đã được một số tài liệu chứng minh là không đúng với các yếu tố sau:

  • Quan Hoàng Đôi là vị tướng giáng trần cùng thời với Quan Hoàng Bảy Bảo Hà vào khoảng thời gian 1740 – 1786 và hai Ông cùng chinh chiến với nhau như những người anh em. Trong bản văn ông Hoàng Đôi cũng nhắc đến địa danh Bảo Hà. Trong khi đó Quan Triệu Tường lại góp công đánh giặc Mạc phù nhà Lê vào những năm 1620 -1677.
  • Theo tín ngưỡng Tứ Phủ, Quan Hoàng Đôi thuộc Nhạc Phủ còn Quan Triệu Tường thì không. Người ta hay thỉnh Quan Triệu Tường như một vị thuộc hàng Quan Lớn.

Vì vậy, với tài năng đức độ và những công lao to lớn trong việc xây dựng nước nhà, Quan Triệu Tường được đồng nhất hình ảnh với Quan Lớn Đệ Thập thời Hùng Vương.

Hầu giá Quan Lớn Đệ Thập

Người ta thường thỉnh Ông về sau hàng Ngũ Vị Tôn Quan; Quan Lớn Điều Thất và Quan Lớn Đệ Bát trong hàng Lục Phủ Tôn Ông. Khi ngự đồng, ông mặc áo vàng. Sau đó tấu hương, khai hoang và múa cờ.

Đền thờ Ngài

Đền Quan Triệu Tường – Thanh Hoá

Ngôi đền Đức Ông thờ Quan Triệu Tường tọa lạc tại địa phận Gia Miêu, Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa. Vào những năm 1960, ngôi đền bị tàn phá nặng nề, kéo theo toàn bộ kiến trúc và những di tích văn hóa giá trị lịch sử của ngôi đền. Sau 30 năm, vào năm 1990 thì đền Quan Hoàng Triệu Tường được phục dựng lại, trở thành địa điểm tâm linh thiêng liêng thờ Quan Triệu Tường.  Năm Đến năm 1993, đền đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh.

quan lớn đệ thập triệu tường
Đền Quan Triệu Tường tại Thanh Hoá

Cứ đến ngày 24/3 âm lịch thường niên, Xã Hà Long lại tổ chức lễ hội tại Đền Quan Hoàng Triệu Tường long trọng để tưởng nhớ công ơn Ngài, thu hút nhân dân gần xa hành hương tới đây thành kính tri ân công đức

Đền Quan Triệu Tường – Hà Nội

Tại làng Chèm thuộc xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, có một ngôi đền thờ Quan Triệu Tường nằm trên vị trí gắn liền với nơi đóng quân của Ngài khi ra bắc giúp vua Lê diệt nhà Mạc.

Tại nơi thờ, tượng Quan Triệu Tường được thờ ở gian giữa. Bên cạnh đó còn có các gian thờ Mẫu Tứ Phủ, Tam Thế Phật, Tam Tòa Thánh Mẫu và Ngọc Hoàng thượng đế và nhiều vị thần linh khác trong hệ thống tín ngưỡng Tứ Phủ.

Ngoài ra, Ngài còn được phối thờ tại Ban Tứ Phủ Thánh Hoàng tại một số đền phủ khác.

Dâng lễ Quan Triệu Tường

Hằng năm cứ vào dịp đầu xuân năm mới hay ngày lễ hội của đền thờ Ngài, nhân dân trong vùng và du khách gần xa thường hướng về nơi đây để dâng nén hướng kính cẩn dâng lễ bày tỏ tấm lòng biết ơn. Sau là mong Ngài chứng tâm mà phù hộ độ trì cho gia khuyến bình an, may mắn. Khi hành hương, người ta hay chuẩn bị một mâm lễ chay mặn tùy tâm gồm các thức lễ như hoa quả,  cơi trầu, quả cau, xôi thịt, nén hương, giấy tiền, cánh sớ hay quanh oản,…

Với Oản dâng lễ, quý khách nên lựa chọn loại được đầu tư trang trí tỉ mỉ với hoa lụa kiêu sa, vàng giả kim trang trọng, cùng với các phụ kiến trang trí tinh tế, mang nhiều ý nghĩa tốt lành. Mẫu Oản dâng Quan Lớn Đệ Thập Triệu Tường nên có màu vàng (do đây là màu đại diện cho Ngài, được sử dụng là màu áo khi về hầu đồng) sẽ thành tâm hơn cả.

Quý khách có thể tham khảo mẫu Oản lễ dâng Quan Lớn Đệ Thập Triệu Tường tại Oản cô Tâm như sau:

đi lễ quan triệu tường
Các mẫu Oản lễ màu vàng thích hợp dâng Quan Lớn Triệu Tường
đi lễ quan triệu tường
Oản Ngọc màu vàng thành tâm kính lễ Quan lớn

Oản Cô Tâm – đơn vị cung cấp Oản lễ và phụ kiện làm Oản Tài Lộc

Oản cô Tâm là đơn vị cung cấp Oản Tài Lộc và phụ kiện làm Oản chất lượng hàng đầu thị trường.  Thấu hiểu những giá trị trong tín ngưỡng thờ cúng, các nghệ nhân luôn sáng tạo ra những mẫu oản không chỉ đặc sắc về mặt thẩm mỹ mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa về tâm linh.

Oản Tài Lộc là sản phẩm đặc biệt được sáng tạo kiểu dáng bởi các nghệ nhân tài năng thuộc thương hiệu Oản Cô Tâm. Oản được trang trí công phu với nhiều chi tiết bắt mắt được làm từ những chất liệu cao cấp, bền đẹp làm toát lên vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa. Oản Tài Lộc và những phụ kiện làm Oản tại Cô Tâm mang nhiều ý nghĩa tài lộc tốt lành, phục vụ tối đa nhu cầu cúng lễ của quý con hương đệ tử khắp mọi miền tổ quốc muốn về đền dâng lễ kính lạy Quan Triệu Tường nói riêng và hệ thống các tín ngưỡng thờ cúng tại Việt Nam nói chung. 

Xem thêm: Hướng dẫn cách chọn oản dâng lễ Tứ Phủ – Gia Tiên – Thần Tài – Phật không phải ai cũng hiểu rõ

Bản văn Quan Triệu Tường

Chí càn khôn nổi miền Nam Việt

Đất Thanh Hoa dân kiệt địa linh

Tấu quan Hoàng Triệu giáng sinh

Vào nhà Nguyễn tộc nên danh tướng tài.

Ông hoàng con vua thứ hai

Đời Lê Thái Tổ quản cai triều đình.

Có nhà họ Mạc bất bình

Vua sai quan Triệu đề hành binh sang.

Khi đi tế độ nghiêm trang

Khi về đóng đất Tống Sơn,Triệu Tường.

Hay đâu sự lạ phi thường

Hoàng về cho tới Triệu Tường xứ Thanh.

Bái đô còn dấu anh linh

Công người ghi để sửa xanh muôn đời.

Việt sử chép đời Lê Thái Tổ

Đức Nguyễn Kim phò chúa an dân

Sinh ông Hoàng Triệu trung thần

Đã hay kinh sử lại nhuần binh thư.

Giận họ Mạc quyết trừ căn thảo

Đấng trung thần giữ đạo Khương Duy

Ra tay huấn luyện binh kỳ

Làm cho họ Mạc khiếp uy nhường tài.

Đã nên đấng khôi đai đệ nhất

Dải hoành sơn khời vận hoàng đồ

Sắc vàng choi chói ngàn thu

Lầu son phủ tía đế đô muôn đời.

Đất Đại Việt chia Trung, Nam, Bắc

Khí anh linh đệ nhất kỳ trung

Đất Thanh Hoa giời để một dòng

Trời sinh đấng anh hung cái thế.

Triều Lê kỷ có nhà Nguyễn thị

Trời định sinh đệ nhị vương quan

Vẻ tốt tươi lá ngọc cành vàng

Tài văn võ đôi đường kiêm vẹn cả.

Giận ngụy Mạc quy mô dân xã

Lê quốc công chỉ hám cầu tài

Quan Triệu ngài vâng lệnh bài sai

Đề binh mã ra ngoài Bắc trấn.

Vận thần toán bày binh bố trận

Mạc thế cùng chiếu cuốn thu quân

Nẻo Cao Bằng ,Mạc chúa ẩn thân

Ra lệnh chỉ cư dân định cảnh.

Ca khải tấu triều đình phụng mệnh

Gió đưa lay phút lánh cõi tiên

Sổ vàng choi chói đề tên

Sắc truy tặng ngũ môn chủ soái.

Lập đền thờ Triệu quan thành ngoại

Biển vàng ban truyền tới hậu lai

Thỉnh quan giá ngự đền đài

Khuông phù đệ tử đời đời vinh hoa.

-=-=-=–=-=–=–=

=-=-=-=-=-=–==

=-=-=-=-=—=

Ông Hoàng Đôi là một trong bốn vị Khâm Sai thay quyền Tứ Phủ đi chấm lính nhận đồng. Ông từng tham gia nhiều trận đánh trên thượng ngàn và sau này khi hiển thánh, ông trở thành vị Quan Hoàng thứ hai trong Thập Vị Quan Hoàng, được nhân dân nhiều vùng lập đền nghiêm cẩn thờ kính.

NỘI DUNG [ẩn]

Sự tích Ông Hoàng Đôi

Quan Hoàng Đôi là vị quan ông hầu mẫu ở Đền Sòng và Phố Cát , làm việc thượng ngàn giám sát. Tương truyền khi sinh thời, ông là người Mán đã có công lớn trong việc đánh giặc vệ quốc. Ông cũng được phong chức Tướng Công trong Triều Đình. Trong những bản văn về ông Hoàng Bảy Bảo Hà có xuất hiện sự việc ông Hoàng Đôi là người đi đánh trận cùng.

“Doanh trung thương có hai hoàng vào ra

Quan Hoàng Bảy Bảo Hà chính vi

Cùng tướng công Đệ Nhị Hoàng Hai

Can qua dâu bể biển đời…”

Vì thế người ta còn gọi Quan Hoàng Đôi bằng danh xưng Ông Hoàng Đôi Bảo Hà.

Xem thêm: Ông Hoàng Báo Đông Cuông là ai? Kinh nghiệm đi lễ đền thờ Thánh Ông.

ông hoàng đôi
Tượng thờ Ông Hoàng Đôi trong đền

Hầu giá Ông Hoàng Đôi

Theo sắc phong Tứ Phủ, khi ngự về đồng thì ông Hoàng Đôi ngự áo xanh lá cây chít khăn mỏ rìu, mặc áo trấn thủ, đi mạng chéo, đi ghệt tay và ghệt chân, tay cầm đôi hèo. Ngài làm lễ khai quang, đi hèo ngự tọa, hiến tửu, nghe thơ, ban phát lộc tài. Trước đây chỉ những đồng cựu, chủ nhang, đồng đền, đạo trưởng mới hầu Ngài.

Trước kia, Ông Hoàng Bẩy thường ít được hầu hơn là Ông Hoàng Đôi. Tuy nhiên về sau thì người ta hầu Ông Hoàng Bẩy là chủ yếu, ít khi hầu Quan Hoàng Đôi hơn. Nhiều quan điểm cho rằng thường chỉ hầu một trong hai ông vì hai ông đều cùng chinh chiến đánh giặc với nhau.  

Xem thêm: Khám phá đền thờ Ông Hoàng Bảy và những sự tích lưu truyền về Thánh Ông.

Đền thờ phụng Ông Hoàng Đôi ở đâu?

Đền thờ Quan Hoàng Đôi ở Cẩm Phả, Quảng Ninh

Ngôi đền này có tên gọi là đền Hoàng Đôi Bảo Hà, do là ông Hoàng Đôi được nhân dân rước từ vùng Bảo Hà về đây để thờ.

Đền ngự trị tại vị trí lưng chừng đồi, nơi mà lưng tựa sơn lâm mặt hướng về thủy. Vị trí đền cách đường phố Lý Bôn khoảng 70m, mặt chính điện quay về phía Nam nơi có Vịnh Bái Tử Long xinh đẹp. Thủ nhanh lập đền này là cụ đồng Nhâm với lòng tôn kính và biết ơn công lao to lớn của vị Quan Hoàng Đôi đã anh dũng vệ quốc cứu dân. Đây là phần đất của gia đình cụ đồng Nhâm và cụ đã tự xây dựng ngôi đền và rước chân nhang Ngài về để thờ phụng.

quan hoàng đôi
Đền thờ Ông Hoàng Đôi tại Cẩm Phả, Quảng Ninh

Đền thờ Ông Hoàng Đôi ở Bảo Hà, Lạng Sơn

Ông Hoàng Đôi được thờ tại cung Tứ Phủ Ông Hoàng tại đền Bảo Hà – ngôi đền chính thờ Ông Hoàng Bảy. Lý do Ông được thờ trong đền Ông Hoàng Bảy Bảo Hà là do hai ông có mối liên hệ mật thiết và điều này là hợp lý vì hai ông cùng đi đánh giặc vệ quốc với nhau. Người ta thường để tượng của Ông Hoàng Đôi màu xanh còn Ông Hoàng Bảy là màu tím. Đây cũng là màu áo chính của hai ông trong nghi lễ hầu đồng. 

Ngoài ra, chùa Quang Minh ngay phía sau đền Bảo Hà là nơi Ông Hoàng Đôi được thờ chính.

Đền thờ Ông Hoàng Đôi tại Phủ Tây Hồ, Hà Nội

Phủ Tây Hồ cũng là địa điểm tâm linh thờ phụng Ông Hoàng Đôi. Nơi thờ ông nằm ở bên cung Sơn Trang, nhìn vào hai bên cầu sẽ thấy có hai vị Quan Hoàng đang cưỡi ngựa bạch. Một vị mặc áo đỏ, đai vàng, khăn xếp lét màu vàng là Quan Hoàng Tứ. Vị còn lại mặc áo xanh chính là Quan Hoàng Đôi. 

quan hoàng đôi
Tượng ông Hoàng Đôi cưỡi ngựa thờ tại Phủ Tây Hồ, Hà Nội

Dâng lễ lên Ông Hoàng Đôi

Ngày lễ của Ngài 14 tháng 7 âm lịch hàng năm. Vào dịp này, các đền thờ cúng ông Hoàng Đôi lại thu hút hàng ngàn lượt khách hành hương tứ xứ đổ về dâng lễ bái yết Ngài. Trước là để tỏ lòng thành kính, biết ơn đối với công lao vệ quốc vệ dân của ông, sau là cầu Ngài phù hộ độ trì cho gia quyến và vạn sự bình an như ý. Một mâm đồ lễ thường là các thức đồ chay mặn tùy tâm, không yêu cầu đắt tiền nhưng cần chứa đựng thành ý của người dâng lễ.

 Nếu quý khách đang tìm đồ dâng lễ đẹp, sang mà lại trưng lễ được trong thời gian dài thì có thể tham khảo các mẫu Oản lễ. Oản lễ dâng lên gia tiên, dâng thánh phật từ xa xưa đã là phong tục lâu đời của người Việt. Ngày nay, để những quanh oản trở nên độc, lạ, thẩm mỹ hơn mà vẫn mang trọn màu sắc tâm linh, các nghệ nhân đã sáng tạo ra nhiều mẫu oản nghệ thuật ý nghĩa. Trong đó, những quanh oản dâng Quan Hoàng Đôi được cho rằng phải mang màu xanh lá chủ yếu. Bởi khi về ngự đồng, Ngài thường mặc áo màu này. 

Vì vậy mà quanh oản dâng lên Quan Hoàng Đôi tại Oản Cô Tâm được thiết kế tạo hình như sau:

oản tài lộc 56
Mẫu Oản Thắp Hương xanh lá dâng lễ Thánh Ông
đi lễ ông hoàng đôi
Oản cô Tâm thiết kế mẫu Oản Tài Lộc màu xanh dâng lễ Ông Hoàng Đôi

Được tạo nên từ đôi bàn tay dày kinh nghiệm của các nghệ nhân, những mẫu oản lễ còn được trang trí chi tiết, tỉ mỉ, đúc kết tạo hình từ quá trình nghiên cứu kỹ càng về tín ngưỡng thờ cúng của người Việt. Do đó, quý khách hàng hoàn toàn an tâm rằng, những quanh oản dâng lên ông Hoàng Đôi và các vị thần linh khác đều là những quanh oản đẹp nhất, sang nhất, vừa có giá trị thẩm mỹ mà vừa đảm bảo cái hồn bên trong.

Tham khảo thêm: những mẫu oản dâng Ông Hoàng Đôi và các vị thánh thần Tứ Phủ khác.

Bản văn Ông Hoàng Đôi

Bản 1

Hoàng Đôi đem quân lên ngàn

Đùng đùng súng nổ dậy vang khắp trời

Sớ văn tấu thỉnh khuyên mời

Thỉnh Hoàng linh ứng ngự chơi đền này

Quan Hoàng vạn phép trong tay

Tam sanh sửa lễ khi nay khẩn cầu

Ai thời căn số phải hầu

Lập đàn thỉnh bóng, quy đầu làm tôi

Thánh Hoàng hoá phép trên trời

Hải môn bốn bể khắp nơi quyền hành

Bảo Hà coi chốn rừng xanh

Thổ Nùng Thổ mán phục tình làm tôi

Sắc phong chính hiệu Hoàng Đôi

Mười hai cửa bể mọi nơi đi về

Con vua Bát Hải thuỷ tề

Long thần Hoàng cưỡi đi về sớm khuya

Bấy giờ có sớ dâng lên

Vua Cha giáng chỉ hạ truyền phán ra

Kíp ngay diệt lũ yêu ma

Thánh hoàng đội lệnh bước ra sân rồng

Ba quân, lĩnh ấn công đồng

Kiếm thiêng ra phép thần thông xoay vần

Trên trời nổi trận phong vân

Sai lôi lôi giáng tối tăm mịt mờ

Pháp màu biến ứng thần cơ

Quỷ tan tà tán bấy giờ thu lôi

Chiêng kêu, trống đánh ba hồi

Thượng đường mở hội đón người lên công

Vua cha ban sắc tặng phong

Càng thêm tối tú oai hùng uy quang

Tiểu tôi bái lạy đức Hoàng

Dám xin soi xét trần gian lỗi lầm

Hoàng về giáng lưu ân

Khuông phù đệ tử thiên xuân thọ trường

Bản 2

Hoàng Đôi lại sinh ra sau (2 lần)

Anh linh giáng thế ngự đồng hôm nay

ông về đồng ra tay chấp chính kỷ cương.

Cầm cân nảy mực sửa sang cõi phàm

Chốn long nghỉ quyền quan chính ngự

Cảnh thuyền rồng tiên nữ chèo qua.

Quan ông dưỡng dục trên bờ

Khắp dòng sông ấy ông ngự thật là vui

Thỉnh mời đệ nhị ông Hoàng

Thống trị thiên hạ mọi nơi xa gần.

Thỉnh mời ông Hoàng đế tinh quân

Đệ Nhị ông ở rừng xanh ngự về

Vốn xưa ông Ngự thiên đình

Quyền cai các vị liệt tinh thiên tài.

Số tinh, số tử ở đời

Tay ông biến phép chẳng sai số nào

Quân cai văn võ thiên tào

Khi trong bệ ngọc, khi vào toà sen

Thông minh trí tuệ trăm đường

Quyền ông cai quản chẳng nhường chi ai.

Ra uy cập vũ thu am

Tự nhiên dựng nước đi tuần cõi xa

Văn mời nước:

Hỡi cô chuốc rượu vậy thời nơi nao

Tề tay tiên chuốc chén rượu đào

Dâng lên là lên cúng Mẫu

Dâng vào tiên thánh Hoàng sơi.

Đệ nhất tuần sơ, ông đã hiểu rồi

Đệ nhị tuần á, chúc chén rượu đầy.

Các cô dâng lên cúng Mẫu

Các cô dâng vào tiên thánh Hoàng sơi.

Đệ nhất tuần sơ, đệ nhị tuần á, đệ tam tuần chung

Các cô dâng lên cúng Mẫu

Các cô dâng vào tiên thánh Hoàng sơi.​..

=-===================

============================================

Quan Hoàng Đôi là ai?

Quan Hoàng Đôi hay Ông Hoàng Đôi là vị thánh hoàng thứ hai (đứng sau Quan Hoàng Cả) trong hàng thập vị Quan Hoàng trong Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ của người Việt.

Sử sách lưu truyền về ngài là một vị tướng toàn tài, hay kinh sử, nhuần binh thư, trung thần phò vua hộ quốc. Thánh Ông Hoàng Đôi từng tham gia nhiều trận đánh trên thượng ngàn và sau này khi hiển thánh, được nhân dân nhiều vùng lập đền nghiêm cẩn thờ kính. Ông cùng Quan Hoàng Bảy  chống giặc ngoại xâm, bảo vệ sự bình yên trên vùng đất Bảo Hà – Lào Cai. 

Xung quanh thân thế và những thần tích của ngài có rất nhiều dị bản. Trong vùng đất xứ Thanh, một số nơi đồng nhất Quan Triệu Tường là Quan Hoàng Đôi. Thế nhưng lại có tài liệu khác cho rằng, Quan Triệu Tường là hiện thân của Quan Lớn Đệ Thập. Một trong mười vị tướng của Vua cha Bát Hải Động Đình trong Tín ngưỡng Tứ Phủ, Ông được tôn là Quan thứ mười trong hàng Lục Phủ Tôn Ông và hay được thỉnh đến sau hàng Ngũ vị Tôn quan.

Thần tích Quan Hoàng Đôi

Xưa nay, các tài liệu đều nói về thân thế của Quan Hoàng Đôi như sau: 

Quan Hoàng Đôi là con thứ hai của Vua cha Bát Hải Động Đình, hiện thân của ông là tướng quân Nguyễn Hoàng. Ông theo lệnh Vua cha giáng sinh lên cõi trần gian làm con trai thứ hai của nhà họ Nguyễn; sau đó ông trở thành danh tướng có công giúp nhà Lê trong công cuộc phù Lê diệt Mạc. Ông đã từng đem quân truy đuổi họ Mạc đến tận đất Cao Bằng, được vua Lê phong nhiều công trạng. Nơi đóng quân của ông là đất Tống Sơn – Triệu Tường – Thanh Hoá. 

Theo các tư liệu cổ thì Quan Hoàng Triệu chính là chúa Nguyễn Hoàng – thuỷ tổ của 9 đời chúa Nguyễn và 13 đời vua Nhà Nguyễn. Nguyễn Hoàng là người Gia Miêu – Hà Phong – Hà Trung – Thanh Hóa ngày nay; ngài sinh năm Ất Dậu (1525) là con trai thứ hai của một công thần triều Lê là Nguyễn Kim. Sau khi anh và cha của Nguyễn Hoàng bị đầu độc chết, Nguyễn Hoàng đã xin vua Lê về trấn thủ đất Thuận Hóa. Từ nơi đây, Nguyễn Hoàng và các con cháu đã có công mở mang bờ cõi nước Nam từ Quảng Bình đến mũi Cà Mau và thống nhất các vùng đất Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng thuộc cai trị của chúa Bầu và Mạc Thành nước Việt Nam ngày nay. Vì vậy trong vùng Thanh Hoá, một số nơi đồng nhất Quan Hoàng Đôi với Quan Triệu Tường; điều này đã được một số tài liệu chứng minh là không đúng với các yếu tố sau: 

Thứ nhất, Quan Hoàng Đôi là vị tướng giáng trần cùng Quan Hoàng Bảy Bảo Hà vào thời gian những năm 1740 – 1786 và hai ông cùng chinh chiến với nhau như những người anh em. Điều này được khẳng định trong bản văn Ông Hoàng Bảy như sau: 

Quan Hoàng Bảy Bảo Hà chính vi 
Cùng tướng công Đệ Nhị Hoàng Đôi
Can qua dâu bể biển dời
Anh hùng xưa đã ra người cung tiên.

Mà theo truyền thuyết kể lại thì Quan Hoàng Bẩy giáng trần vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786). 

Về sự tích thì ông Hoàng Triệu là con trai của Nguyễn Kim (1468 – 1545), ông tham gia vào công cuộc Phù Lê Dẹp Mạc ở những giai đoạn khi nhà Mạc rút lên Cao Bằng cát cứ, giai đoạn lịch sử này ứng với khoảng thời gian những năm 1620. Và cho đến khi nhà Mạc thực sự chấm dứt thì cũng chỉ vào năm 1677. 

Như vậy xét về mặt lịch sử Quan Hoàng Triệu phải giáng trần trước Quan Hoàng Bẩy Bảo Hà, không thể là anh em của Quan Hoàng Bẩy Bảo Hà được. Do vậy nếu coi Quan Hoàng Triệu là Quan Hoàng Đôi thì sẽ không phù hợp như trong bản văn ông Hoảng Bẩy.

Thứ hai, dựa trên quan điểm về Tín ngưỡng Tứ Phủ thì vị trí thứ hai trong hệ thống thần linh sẽ thuộc về Nhạc Phủ, ví dụ như Quan đệ nhị, Chầu đệ nhị, Cô đôi, Cậu đôi. Vậy thì Quan Hoàng Đôi phải thuộc về Nhạc phủ, tuy nhiên lịch sử về Quan Triệu Trường cũng như đền thờ của ngài lại cho thấy ngài không thuộc về Nhạc phủ. Đây là một lý do nữa để khẳng định Quan Triệu Tương không phải là Quan Hoàng Đôi.

Đền thờ Ông Hoàng Đôi

Đền thờ Ông Hoàng Đôi là một ngôi đền linh thiêng, được nhiều người thường xuyên lui tới để dâng lễ, thắp hương. Hiện nay, trên cả nước có rất nhiều đền thờ thờ Ông Hoàng Đôi, sau đây chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn địa chỉ một số đền thờ Ông Hoàng Đôi để thuận tiện cho việc bạn di chuyển nhé:

Đền thờ Ông Hoàng Đôi ở Cẩm Phả, Quảng Ninh

Ngôi đền này có tên gọi là đền Hoàng Đôi Bảo Hà, vì chính Hoàng Đôi đã được nhân dân Bảo Hà đưa về đây thờ tự. 

Ngôi chùa nằm ở lưng chừng đồi, nơi lưng tựa vào núi và mặt hướng ra nước. Vị trí của đền cách mặt đường Lý Bôn khoảng 70m, mặt chính của đền quay về hướng Nam nơi có vịnh Bái Tử Long xinh đẹp. Vị tể tướng đã nhanh chóng xây dựng ngôi đền này là ông Nhậm với lòng kính trọng và biết ơn công lao to lớn của Quan Hoàng Đôi đã anh dũng bảo vệ đất nước, cứu dân. Đây là đất của gia đình ông Đồng Nhâm và ông đã tự mình xây dựng ngôi chùa, đem hương đèn về thờ cúng.

Đền thờ Ông Hoàng Đôi ở Bảo Hà, Lạng Sơn

Ông Hoàng Đôi được thờ trong Tứ phủ Ông Hoàng tại đền Bảo Hà – ngôi đền chính thờ Ông Hoàng Bảy. Sở dĩ ông được thờ trong đền ông Hoàng Bảy Bảo Hà là vì hai ông có mối quan hệ thân thiết và điều này cũng hợp lý bởi hai ông đã cùng nhau đi đánh giặc bảo vệ đất nước. Người ta thường để tượng Ông Hoàng Đôi màu lam và Ông Hoàng Bảy màu tím. Đây cũng là tông màu chủ đạo của hai người trong lễ đính hôn.

Đền thờ Quan Hoàng Đôi tại Phủ Tây Hồ, thành phố Hà Nội 

Phủ Tây Hồ nơi gắn liền với Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì nơi đây cũng là một trong những địa điểm tâm linh thờ phụng Quan Hoàng Đôi. Nơi thờ ông nằm ở bên cung Sơn Trang, nhìn vào hai bên cầu sẽ thấy có hai vị Quan Hoàng đang cưỡi ngựa bạch. Một vị mặc áo đỏ, đai vàng, khăn xếp lét màu vàng là Quan Hoàng Tư. Vị còn lại mặc áo xanh chính là Quan Hoàng Đôi. Ngoài ra, chùa Quang Minh ngay phía sau đền Bảo Hà là nơi Ông Hoàng Đôi được thờ chính.

Thời gian khánh tiệc Ông Hoàng Đôi

 Khánh tiệc của Ngài là ngày 14 tháng 7 âm lịch hàng năm. 

Dâng lễ Ông Hoàng Đôi

Vào dịp này, các ngôi đền thờ ông Hoàng Đôi thu hút hàng nghìn lượt khách thập phương hành hương. Trước là để tỏ lòng thành kính, biết ơn công lao của ông trong việc bảo vệ đất nước, an dân, sau là để cầu mong được Thần linh che chở, bảo vệ, gia đình được bình an, mọi sự như ý. 

Mâm cúng thường là món chay, món mặn tùy bạn chọn, không đòi hỏi đắt tiền nhưng cần chứa đựng thành ý của người dâng lễ.

Hầu giá Quan Hoàng Đôi 

Theo sắc phong Tứ Phủ, khi ngự về đồng Quan Hoàng Đôi ngự áo xanh lá cây chít khăn mỏ rìu, mặc áo trấn thủ, đi mạng chéo, đi ghệt tay và ghệt chân, tay cầm đôi hèo. Ngài làm lễ khai quang, đi hèo ngự tọa, hiến tửu, nghe thơ, ban phát lộc tài.

Bản văn

Bản văn số 1:

Hoàng Đôi đem quân lên ngàn
Đùng đùng súng nổ dậy vang khắp trời
Sớ văn tấu thỉnh khuyên mời
Thỉnh Hoàng linh ứng ngự chơi đền này
Quan Hoàng vạn phép trong tay
Tam sanh sửa lễ khi nay khẩn cầu
Ai thời căn số phải hầu
Lập đàn thỉnh bóng, quy đầu làm tôi
Thánh Hoàng hoá phép trên trời
Hải môn bốn bể khắp nơi quyền hành
Bảo Hà coi chốn rừng xanh
Thổ Nùng Thổ mán phục tình làm tôi
Sắc phong chính hiệu Hoàng Đôi
Mười hai cửa bể mọi nơi đi về
Con vua Bát Hải thuỷ tề
Long thần Hoàng cưỡi đi về sớm khuya
Bấy giờ có sớ dâng lên
Vua Cha giáng chỉ hạ truyền phán ra
Kíp ngay diệt lũ yêu ma
Thánh hoàng đội lệnh bước ra sân rồng
Ba quân, lĩnh ấn công đồng
Kiếm thiêng ra phép thần thông xoay vần
Trên trời nổi trận phong vân
Sai lôi lôi giáng tối tăm mịt mờ
Pháp màu biến ứng thần cơ
Quỷ tan tà tán bấy giờ thu lôi
Chiêng kêu, trống đánh ba hồi
Thượng đường mở hội đón người lên công
Vua cha ban sắc tặng phong
Càng thêm tối tú oai hùng uy quang
Tiểu tôi bái lạy đức Hoàng
Dám xin soi xét trần gian lỗi lầm
Hoàng về giáng lưu ân
Khuông phù đệ tử thiên xuân thọ trường.

Bản văn số 2:

Hoàng Đôi lại sinh ra sau (2 lần)
Anh linh giáng thế ngự đồng hôm nay
Ông về đồng ra tay chấp chính kỷ cương.
Cầm cân nảy mực sửa sang cõi phàm
Chốn long nghỉ quyền quan chính ngự
Cảnh thuyền rồng tiên nữ chèo qua.
Quan ông dưỡng dục trên bờ
Khắp dòng sông ấy ông ngự thật là vui
Thỉnh mời đệ nhị ông Hoàng
Thống trị thiên hạ mọi nơi xa gần.
Thỉnh mời ông Hoàng đế tinh quân
Đệ Nhị ông ở rừng xanh ngự về
Vốn xưa ông Ngự thiên đình
Quyền cai các vị liệt tinh thiên tài.
Số tinh, số tử ở đời
Tay ông biến phép chẳng sai số nào
Quân cai văn võ thiên tào
Khi trong bệ ngọc, khi vào toà sen
Thông minh trí tuệ trăm đường
Quyền ông cai quản chẳng nhường chi ai.
Ra uy cập vũ thu am
Tự nhiên dựng nước đi tuần cõi xa

Văn mời nước:
Hỡi cô chuốc rượu vậy thời nơi nao
Tề tay tiên chuốc chén rượu đào
Dâng lên là lên cúng Mẫu
Dâng vào tiên thánh Hoàng sơi.
Đệ nhất tuần sơ, ông đã hiểu rồi
Đệ nhị tuần á, chúc chén rượu đầy.
Các cô dâng lên cúng Mẫu
Các cô dâng vào tiên thánh Hoàng sơi.
Đệ nhất tuần sơ, đệ nhị tuần á, đệ tam tuần chung
Các cô dâng lên cúng Mẫu
Các cô dâng vào tiên thánh Hoàng sơi.​..

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Optimized by Optimole