Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124

Ông Hoàng Chín là một trong Thập Vị Ông Hoàng Tứ Phủ thuộc hàng vị thứ chín. Sự tích nơi trần thế của ông được lưu truyền tại nhiều nơi với nhiều câu chuyện khác nhau. Người ta cho rằng, hiện thân của Ông Hoàng Chín là cả hai người bao gồm Ông Hoàng Chín Cờn Môn và Ông Chín Thượng Ngàn.
NỘI DUNG [ẩn]
Hiện nay trong hệ thống thần linh Thập Vị Ông Hoàng, Ông Chín Cờn Môn và Ông Chín Thượng Ngàn đều được xếp vào hàng Ông Hoàng Chín. Hai ông tuy có cuộc đời tại trần thế hay đền thờ sau khi hóa khác nhau, nhưng với nhân dân địa phương và cả nước, cả hai ông đều là những người có tấm lòng bao dung độ lượng, cùng được lưu danh vào hệ thống thần linh Tứ Phủ.
Cứ vào những ngày lễ, đầu xuân năm mới hay mùng 1 ngày rằm, người ta lại chuẩn bị sắm sửa nén hương nhang, dâng mâm lễ vật chỉn chủ để cầu Ngài ban tài tiếp lộc, phù hộ độ trì sức khỏe và bình an. Mâm lễ vật không cần to mà cần thành tâm. Thông thường người dâng lễ sẽ sắm mâm lễ chay mặn tùy tâm với những vật phẩm như xôi giò, hương nhang, cánh sớ,…
Một trong những vật phẩm trang trọng, thành kính mà vừa có thể được trong thời gian lâu chính là oản. Oản được khuyến khích dâng tiến là loại Oản Nghệ Thuật được tạo hình thiết kế cũng như trang trí với hoa lụa, lá ngọc cành vàng, mang nhiều ý nghĩa tốt lành trong tâm linh. Với oản lễ dâng Ông Hoàng Chín, quý khách nên chọn vật phẩm có màu sắc trùng với màu áo ông khi ngự về đồng. Quý khách có thể tham khảo mẫu Oản ngọc dâng Ông Hoàng Chín tại Oản cô Tâm như sau:


Oản Cô Tâm là đơn vị chuyên cung cấp Oản Tài Lộc nghệ thuật nhiều màu sắc, hình dáng, được trang trí cách điệu phục vụ nhu cầu cúng lễ Tứ Phủ, lễ Gia Tiên, lễ Phật hay lễ Thần Tài của mọi con hương, đệ tử trên khắp cả nước.
Khách hàng tham khảo chi tiết các sản phẩm này vui lòng truy cập website Oản Cô Tâm, để lại lời nhắn tư vấn nếu cần. Tại đây, chúng tôi cung cấp rất nhiều mẫu oản lễ Tài Lộc và các phụ kiện làm Oản đa dạng để quý khách lựa chọn phù hợp với mục đích sử dụng.
Lưu truyền rằng lúc sinh thời, ông sống ở Nghệ An, lúc bấy giờ là thời Lý và đi thi nhiều lần nhưng không đỗ đạt. Sau đó, ông xuống tóc và ra cửa biển Cờn lập am miếu tu trì cứu vớt người đi biển. Đồng thời, đây cũng là nơi dừng chân nghỉ ngơi của tàu thuyền qua lại. Tôn truyền, ông là người vớt và chôn cất cẩn thận thân y Thái Tử Nam Tống trong trận đánh với quân Nguyên. Có tài liệu cho rằng, ngài cứu sống 3 mẹ con mẫu Cờn (Dương Quý Phi Thái Hậu). Khi đó, nếu nộp họ cho quan thì sẽ phải làm nô tì, còn để họ lang thang vất vưởng ngoài kia thì sẽ gặp đau khổ. Chi bằng tục huyền lấy họ để nương tựa lẫn nhau nhưng ngài lại bị cự tuyệt, buồn chán dẫn đến quyên sinh. Sau khi ngài hóa, Mẫu đọc di thư ngài để lại và hiểu rõ được sự việc nên quyết định ra biển Cờn thác hóa. Hai người con cũng theo mẹ ra biển và cũng hóa tại đây. (Cũng có tài liệu ghi chép rằng vào thời nhà Tống, khi quân Tống suy yếu trước quân Nguyên, Thái hậu Dương Quý Phi cùng ba công chúa chạy ra biển, chợt bão nổi bị chết đuối, xác trôi dạt vào cửa Cờn và được lập đền thờ).
Sau sự việc này, thuyền bè qua lại qua cửa Cờn đều được chở che, bình an vượt qua sóng bão. Nhân dân địa phương nhận thấy sự anh linh này, liền lập đền thờ 3 mẹ con Mẫu ở lạch Cờn và Hoàng đế Tống Đế Bính ở trên đỉnh núi, đền thờ ông Hoàng Chín ở ngoài biển, tất cả đều được phối hương linh vị ở đền Cờn. Nhân dân gọi ông là ông Chín đền Cờn.
Ông Chín Cờn Môn thường rất ít ngự đồng. Thường chỉ có người ăn lộc, sát căn duyên hoặc về đền thỉnh ông thì ông mới se loan giá ngự. Trang phục khi ngự đồng của ông là áo the màu đen, đầu đội khăn xếp đen, kiểu cách giống thầy đồ xưa. Sau đó ông làm thơ, viết chữ và ban phát tài lộc.
Tuy nhiên, khi hầu giá Ông tại đền Sòng Sơn, ông bắt buộc mặc áo đỏ the hồng, đầu đội khăn xếp đỏ. Lý do giải thích có việc này được hiểu là Ông đang chầu Mẫu Sòng Sơn tại cung cấm nên phải mặc áo the đỏ để ra mắt Mẫu. Khi đó, người ta cũng gọi ông với danh Ông Hoàng Chín Sòng Sơn.
Như đã giới thiệu ở trên, đền thờ ông Hoàng Chín tọa lạc ngoài cửa biển, nay là đường ra bãi tắm Quỳnh Phương thuộc phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Nơi này còn có tên gọi là đền Cờn ngoài, còn đền Cờn trong thờ Tứ Vị Vua Bà.
Xem thêm: Tìm hiểu về đền Cờn Môn và câu chuyện kể Tứ Vị Vua Bà linh thiêng.
Ban đầu, có một đền Cờn thờ chung Tứ Vị Vua Bà, Vua Tống Đế Bình cùng 3 vị tướng của ngài. Sở dĩ do quan niệm “Nam nữ thụ thụ bất tương thân” nên đầu thế kỷ thứ 19, vua Gia Long đã chuyển cung thờ Vua Tống Đế Bính cùng ba tướng ra đền Cờn ngoài cách chỗ cũ khoảng 1,5km. Đền Cờn cũ trở thành đền Cờn trong.

Hiện nay, đền Cờn ngoài gồm 3 gian đại bái với cách bài trí phối thờ như sau:
– Gian ngoài: Cung chính giữa thờ Quan Hoàng Chín, Quan Hoàng Mười; tả hữu là cung thờ Quan Nam Tào, Quan Bắc Đẩu; hai đầu hồi là cung thờ Cậu bé, Cô bé bản đền.
– Gian thứ hai là cung thờ Ngũ Vị Tôn Ông
– Gian thứ ba thờ Vua Tống Đế Bính và 3 tướng của ông là: Lục Tú Phu, Lương Thế Kiệt và Văn Thiên Tường
Ngoài ra, ông Chín Cờn còn được thờ tại đền Mẫu Thoải ở Long Biên, Hà Nội cùng với Công Đồng Tứ Phủ, Tứ Vị Vua Bà, Đức Thánh Trần.
“Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”
Có thể nói, đền Cờn được quan niệm rằng anh linh bậc nhất xứ nghệ, là nơi có các vị thần linh đã từng phù hộ cho quan quân triều đình nước Việt trong cuộc chinh chiến.. Cũng vì thế, hội đền Cờn là lễ hội tiêu biểu nơi đây, thu hút hàng vạn du khách thập phương gần xa về tham quan thưởng ngoạn và chiêm bái hằng năm.

Lễ hội đền Cờn được tổ chức vào 19 đến 21 tháng Giêng âm lịch cùng với các lễ tế kéo dài tới tháng 3 âm lịch. Phần lễ bao gồm lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ khai hội, lễ cầu ngư, lễ rước voi, rước ngựa, lễ hợp tế, lễ yết vị, lễ đại tế và lễ tạ. Phần hội gồm các chương trình văn nghệ, triển lãm ảnh, thi đấu các môn thể thao như đua thuyền, đẩy gậy, bóng chuyền, kéo co và các trò chơi dân gian truyền thống của địa phương.
Vào khoảng thời gian kháng chiến chống Mỹ, lễ hội đã không được tổ chức và được phục hồi lại vào năm 1999. Năm 2017. Lễ hội Đền Cờn đón nhận bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Hương một triện lòng thành kính tiến
Cung thỉnh mời Ông Chín Cờn Môn
Khâm thừa thượng đế chí tôn
Sai Ông Hoàng Chín Cờn Môn giáng trần.
Trên chín bệ cao thâm võng cực
Dưới bách thần mộ đức kinh luân
Cù lao chín chữ quần thần
Sinh Ông Hoàng Chín kinh luân gồm tài.
Văn thơ phú sánh ngài Đỗ Lý
Võ lược thao cái thế Tôn Ngô
Cung tên mã thượng giang hồ
Tuổi vừa đôi tám đăng khoa Triều đình.
Tuổi sinh thành công minh chính trực
Quyết về đời ra sức lược thao
Gặp cơn sóng gió ba đào
Mười hai cửa bể sớm chiều xông pha.
Cửa Cờn Môn dựng cờ soái lĩnh
Lệnh ông truyền nghiêm chỉnh ba quân
Một lòng vì nước vì dân
Trấn an cửa bể dẹp quân bạo cường.
Ông mở đường dân an quốc thái
Dùng phép màu cứu độ nhân sinh
Muôn dân hưởng phúc an lành
Nêu cao khí tiết oai danh muôn đời
Nước dù cạn công người không cạn
Đá dẫu mòn gương sáng còn soi
Anh linh lưu dấu muôn đời
Cửa Quan rộng mở cứu người hữu nhân.
Ngẫm cơ tạo xoay vần sống thác
Hãy tu đi rồi đẻ ngày mai
Xưa nay sinh hóa ở đời
Ông Hoàng giáng thế cứu người tồn sinh.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Quyết lánh đường có có không không
Làm nên thiên tứ đỉnh chung
Cho người có đức có công đó mà.
Chữ tu dưỡng gương nga vằng vặc
Bóng soi người hữu đức hữu nhân
Lánh đường đạo tặc tham sân
Tu nhân tích đức ngàn năm vẫn còn
Đức nhân sánh càn khôn vũ trụ
Công ơn người muôn thủa không phai
Nhang thơm dâng trước tiền đài
Nhớ ngày ông Chín ra đời cứu dân.
Tiết trùng cửu quy thần hạc lánh
Nhớ ơn Ngài dâng cánh hương hoa
Rượu quỳnh rót chén Đồ tô
Chúc Hoàng muôn tuổi đề thơ họa vần.
Trong tín ngưỡng Tứ Phủ, ông thuộc Nhạc phủ, có nhiệm vụ cai quản rừng núi.
Ông Hoàng Chín thượng ngàn là người dân tộc trên miền núi. Ông làm nghề hái thuốc cứu người và sau này khi hiển thánh thì người miền Nam hay hầu ông hơn cả.
Khi về đồng, lúc dâng nhang ông Chín người ta dùng bản chầu văn các chúa các chầu để tế lễ. Ông mang gùi, vai quàng dây leo, cởi áo dài đen, xắn quần lên bẹn, lưng đóng khố, tay cầm khèn hoặc con rắn làm từ rễ cây. Khi cung văn chuyển qua điệu Thượng Ngàn, ông khom mình thổi kèn theo nhạc, sau đó nhồi thuốc vào tẩu để hút và cho thuốc người khai bệnh. Giá đồng ông Chín thường diễn ra rất lâu, có khi suốt buổi cúng để cứu nhân độ thế.
Từ buôn làng đến bản trong
Có Ông Chín Thượng ngự đồng lên chơi
Hôm nay Ông Chín giáng trần
Mang còng đi đón biết bao thanh đồng
Đi đâu mà thấy thật đồng
Châu Pha rừng là đầy voi heo hùng
Cây um thùm cây hoa lá
Dậy người cô xô xuốt đời lô nhố
Ông Chín mang gùi mang khố
Khi vui rừng bít khi vui rừng hoa
Về đồng giáng phúc lưu ân
Lộc xa lộc gần Ông xẽ ban cho
Cầu gẫy còn đò hiến cạn còn sông
Ai lên Mạn Ngược Sông Hồng
Nghe trăng tiếng hát tay hồng thường du
Hát dậy đồi núi hoang du
Làng khăy làng khíp Phố Lu Bảo Hà
Đường mòn vắng bóng người qua
Y ơ y chợp Ỷ La Hổ Gầm
Kha mi kha lộc kha săm
Vắng nghe gió hú đêm rầm Sa Ba
Sa Ba thung lũng sương mờ
Cảnh vắng gió hú ví hú gió gào
Người Tày người Thổ người Dao
Gập ghềnh trên ngàn quán thấp đồi cao
Gọi gieo ào ào gío rơi
Gọi chim bay lượn giữa rời
Gọi cá dưới nước đua bơi vẫy vùng
Về đồng đếm bước thung dung
Rau xanh lắm mật hương hừng lúa ngô
Người Tày người Thổ lô lô
Đàn cung nức nảo bên bờ Trường Giang
Người Nùng người Thái người Chàm
Lú âm dìu dặt xa đưa tiếng còng
Người Mèo người Mán bên sông
Tiếng còng vang dậy rừng xâu
Buồng xa thấp thoáng đục mầu sương lam
Ông Chín vai mang gùi nặng
Vì đã quen rồi mưa nắng sơn khê
Rừng xanh sớm tối đi về
Sưa đồi trên mà nắng kề tóc mai
Liền tay gió bay tà áo
Mặc mưa bùn dong bão có xá chi
Xa xa thác đổ ầm ỳ
Sơn lâm hùng vĩ kém gì Thiên Thai
Đắm say điệu kèn cước bước
Êm đêm nhịp bước gieo ca
Dừng chân mén cay thông già
Nhìn nay trăm trăm bước qua lên đồi.
Bản văn Ông Hoàng Chín
Hương một triện lòng thành kính tiến
Cung thỉnh mời Hoàng Chín Cờn Môn
Cửu trùng ngọc bệ chí tôn
Khâm sai Hoàng Chín Cờn Môn giáng trần.
Trên chín bệ cao thâm võng cực
Dưới bách thần mộ đức kinh luân
Cù lao chín chữ quần thần
Sinh Ông Hoàng Chín võ văn toàn tài.
Văn thơ phú so tài Đỗ – Lý
Võ lược thao cái thế Tôn Ngô
Cung tên bẩm trí giang hồ
Tuổi vừa đôi chín đăng khoa Triều đình.
Nỗi bất bình nhân dân cơ cực
Quyết vì đời ra sức lược thao
Chinh y đã nhuộm máu đào
Mười hai cửa bể sớm chiều xông pha.
Cửa Cờn Môn dựng toà soái lĩnh
Lệnh Hoàng truyền nghiêm chỉnh ba quân
Một lòng vì nước vì dân
Trấn an cửa bể dẹp quân bạo cường.
Quyết mở đường dân an quốc thái
Dựng cơ đồ vạn đại dân sinh
Cho dân được hưởng phúc an lành
Nêu cao khí tiết oai linh để đời.
Nước dẫu cạn công người không cạn
Đá dẫu mòn gương sáng còn soi
Bể Nam thơm mãi muôn đời
Cửa Cờn rộng mở cứu người hữu nhân.
Ngẫm cơ tạo xoay vần sống thác
Tóc xanh rồi đầu bạc sớm mai
Ngẫm câu sinh hóa ở đời
Sinh sao cho đáng nên người mới sinh.
Phật hữu tình từ bi tế độ
Quyết lánh đường có có không không
Dẫu rằng thiên tứ đỉnh chung
Thác rồi không lại hoàn không đó mà.
Chữ tu tỉnh gương nga vằng vặc
Bóng soi người hữu đức hữu nhân
Hay gì đạo tặc tham sân
Nhuộm thơ tam nghiệp nghĩa nhân không còn.
Đức nhân sánh càn khôn vũ trụ
Công ơn người muôn thủa không phai
Nhớ ngày mùng chín, tháng hai
Là ngày sinh Thánh ra đời cứu dân.
Tiết trùng cửu quy thần hạc lánh
Nhớ ơn Người dâng kính hương hoa
Rượu quỳnh rót chén đồ tô
Chúc Hoàng muôn tuổi họa thơ mấy vần.
Thơ
Bút pháp tinh anh tửu nhập thần
Hoa khai quả kết vạn gia xuân
Tay tiên đề bút an Thiên hạ
Trăm họ âu ca cổ Thánh thần.
“Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Giang tâm như kính thủy vô trần
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh
Giao vọng Nam thiên ức cố nhân”.
Ngồi tựa khe suối gẩy cung đàn
Chạnh lòng nhớ tới ban tri loan
Tâm thơ Đỗ Phủ hồn theo gió
Gửi khách Tương Như khúc phượng hoàng.
Thế sự cuộc cờ bày lại xóa
Nhân tình cạn chén mượn hơi men
Hỡi ai! Rượu sớm trà chưa tỉnh
Nặng gánh gươm đàn nợ nước non.
Non sông ghi nhớ người anh kiệt
Cờn hải long lanh nước sóng vàng
Chín bệ có hay lòng sắt đá
Ba ngôi đâu tá tiết chiêu dương.
Soi gươm kim cổ lòng man mác
Phú quý vinh hoa giấc mộng vàng.
=-=-===

Ông Hoàng Chín là một trong Thập Vị Ông Hoàng Tứ Phủ thuộc hàng vị thứ chín. Sự tích nơi trần thế của ông được lưu truyền tại nhiều nơi với nhiều câu chuyện khác nhau. Người ta cho rằng, hiện thân của Ông Hoàng Chín là cả hai người bao gồm Ông Hoàng Chín Cờn Môn và Ông Chín Thượng Ngàn.
Hiện nay trong hệ thống thần linh Thập Vị Ông Hoàng, Ông Chín Cờn Môn và Ông Chín Thượng Ngàn đều được xếp vào hàng Ông Hoàng Chín. Hai ông tuy có cuộc đời tại trần thế hay đền thờ sau khi hóa khác nhau, nhưng với nhân dân địa phương và cả nước, cả hai ông đều là những người có tấm lòng bao dung độ lượng, cùng được lưu danh vào hệ thống thần linh Tứ Phủ.
Lưu truyền rằng lúc sinh thời, ông sống ở Nghệ An, lúc bấy giờ là thời Lý và đi thi nhiều lần nhưng không đỗ đạt. Sau đó, ông xuống tóc và ra cửa biển Cờn lập am miếu tu trì cứu vớt người đi biển. Đồng thời, đây cũng là nơi dừng chân nghỉ ngơi của tàu thuyền qua lại. Tôn truyền, ông là người vớt và chôn cất cẩn thận thân y Thái Tử Nam Tống trong trận đánh với quân Nguyên.
Có tài liệu cho rằng, ngài cứu sống 3 mẹ con mẫu Cờn (Dương Quý Phi Thái Hậu). Khi đó, nếu nộp họ cho quan thì sẽ phải làm nô tì, còn để họ lang thang vất vưởng ngoài kia thì sẽ gặp đau khổ. Chi bằng tục huyền lấy họ để nương tựa lẫn nhau nhưng ngài lại bị cự tuyệt, buồn chán dẫn đến quyên sinh. Sau khi ngài hóa, Mẫu đọc di thư ngài để lại và hiểu rõ được sự việc nên quyết định ra biển Cờn thác hóa. Hai người con cũng theo mẹ ra biển và cũng hóa tại đây. (Cũng có tài liệu ghi chép rằng vào thời nhà Tống, khi quân Tống suy yếu trước quân Nguyên, Thái hậu Dương Quý Phi cùng ba công chúa chạy ra biển, chợt bão nổi bị chết đuối, xác trôi dạt vào cửa Cờn và được lập đền thờ). Sau sự việc này, thuyền bè qua lại qua cửa Cờn đều được chở che, bình an vượt qua sóng bão.
Nhân dân địa phương nhận thấy sự anh linh này, liền lập đền thờ 3 mẹ con Mẫu ở lạch Cờn và Hoàng đế Tống Đế Bính ở trên đỉnh núi, đền thờ ông Hoàng Chín ở ngoài biển, tất cả đều được phối hương linh vị ở đền Cờn. Nhân dân gọi ông là ông Chín đền Cờn.
Trong tín ngưỡng Tứ Phủ, Ông Hoàng Chín Thượng Ngàn thuộc Nhạc phủ, có nhiệm vụ cai quản rừng núi. Ông Hoàng Chín thượng ngàn là người dân tộc trên miền núi. Ông làm nghề hái thuốc cứu người và sau này khi hiển thánh thì người miền Nam hay hầu ông hơn cả.
Khi về đồng, lúc dâng nhang Ông Hoàng Chín Thượng Ngàn người ta dùng bản chầu văn các chúa các chầu để tế lễ. Ông mang gùi, vai quàng dây leo, cởi áo dài đen, xắn quần lên bẹn, lưng đóng khố, tay cầm khèn hoặc con rắn làm từ rễ cây. Khi cung văn chuyển qua điệu Thượng Ngàn, ông khom mình thổi kèn theo nhạc, sau đó nhồi thuốc vào tẩu để hút và cho thuốc người khai bệnh. Giá đồng ông Chín thường diễn ra rất lâu, có khi suốt buổi cúng để cứu nhân độ thế.
Ông Hoàng Chín Cờn Môn và Ông Hoàng Chín Thượng Ngàn tuy có cuộc đời tại trần thế hay đền thờ sau khi hóa khác nhau, nhưng với nhân dân địa phương và cả nước, cả hai ông đều là những người có tấm lòng bao dung độ lượng, cùng được lưu danh vào hệ thống thần linh Tứ Phủ.
=-=-=-================
=============================================================================
Đền Quan Hoàng Chín hay còn gọi là Đền Ông Chín Cờn, hay Đền Cờn Ngoài thuộc xã Quỳnh phương Huyện Quỳnh lưu Nghệ an. Đền thờ Quan Hoàng Chín tức thánh hoàng thứ chín trong Tứ Phủ Quan Hoàng.
Lưu ý thêm rằng tại xã Quỳnh Phương có hai ngôi đền: Đền Cờn trong còn gọi là Đền Mẫu Cờn thờ Mẫu Dương Quý Phi, Đền Cờn ngoài thờ Ông Chín Cờn và vua quan nhà Nam Tống. Đền Cờn ngoài nằm sát bờ biển. Đền Cờn trong nằm trong đất liền. Hai ngôi đền cách nhau hơn một cây số.
Lịch sử đền Quan Hoàng Chín
Trước đây, nơi đây Đền Cờn trong thờ chung Tứ Vị Thánh Nương (Hoàng hậu Dương Quý Phi, 2 cô công chúa và 1 người hầu của Hoàng Hậu) và Vua Tống Đế Bình cùng 3 vị tướng của ngài. Do quan niệm \”Nam nữ thụ thụ bất tương thân\” nên đầu thế kỷ thứ 19 vua Gia Long đã chuyển cung thờ Vua quan Tống Đế Bính ra phối thờ ở Đền Cờn ngoài.
Trước khi Vua, quan nhà Nam Tống được di chuyển phối thờ tại nơi đây thì xa xưa trên núi Thằn Lằn đã có một ngôi đền được xây dựng từ thượng cổ gọi là Đền Cờn ngoài. Ngôi đền này thờ quan Hoàng Chín.
Thần tích về Quan Hoàng Chín
Theo sách Ô Châu Cận Lục – Nhà Xuất bản Chính Trị Quốc Gia thì Thần tích về Quan Hoàng Chín như sau:
\” Đời vua HÙNG thứ 13, Hoàng hậu chỉ sinh hai công chúa chứ chưa có hoàng tử nối ngôi. Quần thần thấy Vua đã già mà chưa có người nối ngôi, bèn tâu hãy lập con trai của thứ phi làm thái tử. Vua đáp \”Trẫm vừa nghe hậu nói có thai ,vậy hãy đợi xem sao \”. Thứ phi nghe vậy sợ rằng con mình không được lập, âm mưu mua chuộc bà đỡ nhờ bà giết con trai của Hoàng Hậu nếu được sinh ra. Bà đỡ trả lời :\” Nghề của tôi là cứu người chứ sao lại giết ? Nay tôi có mẹo khác làm đứa bé thành ái nam ái nữ, tất nó không được lập \”.
Đến kỳ hoàng hậu khai hoa, bà đỡ lén lấy lá trong rừng xoa vào bộ phận sinh dục đứa bé. Nhà Vua tuần thú trở về hỏi hậu sinh trai hay gái ? Kẻ tả hữu đáp:\” Sinh trai, nhưng chỗ âm dương không đầy đủ \”. Hậu nghe được liền nói :\”Ta vốn sinh trai, hình hài rõ ràng, nay lại không đủ, tất là do âm mưu của thứ phi \”. Từ đó hậu trở nên cau có gắt gỏng. Vua nổi giận hạ lệnh đẩy mẹ con Hoàng Hậu ra ngoài đảo xa, đến cửa Cờn thì mất
Ngư dân ngủ đêm ở đấy được thần báo mộng rằng \” Ta là vua nước Nam ,bị kẻ khác rắp tâm hãm hại. Thượng đế thương mẹ con ta nên đã phong làm thần rồi \”. Dân chài khấn rằng \”Như thần có linh thiêng, xin phù hộ cho đánh được nhiều cá ,chúng tôi sẽ lập đền thờ\”. Quả như lời, ngư dân liền lập đền thờ. Đền rất linh hiển.
Theo tác giả Tuấn Anh đăng trên trang hatvan.vn: Căn cứ bài thơ đêm ngày 04/12 năm Quý Tỵ ngài đã giáng âm cho Nhà ngoại cảm Hoàng Thị Thiêm của Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Tiềm năng Con người, ngài muốn người đời khi đến khấn ngài thi khấn là THÁI TỬ TRẤN CỬA BIỂN CỜN MÔN. Ngài chính là Hoàng Thái Tử, con vua Hùng thứ 13 bị đầy ra biển Cờn Môn cùng với hai mị nương và Hoàng Hậu – mẹ của ngài.
(Về chi tiết xin các bạn đọc tại : Sự thật các vị thánh thờ tại Đền Cờn ngoài).
Như vậy, theo thần tích này đền Quan Hoàng Chín có từ rất xa xưa, thậm chí hàng ngàn năm trước.
Vua Tống Đế Bính là ai
Tống Đế Bính lên ngôi khi 9 tuổi vào năm 1278. Năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), do quân Tống thất bại trong trận chiến Tống – Nguyên, Vua Tống Đế Bính cùng quan quân nhảy xuống biển tự vẫn. Thái hậu và các công chúa vì thương tiếc nhà Vua cũng nhảy xuống biển tự vẫn theo, thân xác trôi dạt đến cửa Cờn (Nghệ An). Người dân nơi đây đã vớt lên chôn cất và thờ tại Đền Cờn ngoài.
Thương cảm tấm lòng nghĩa vì nước quên thân của các vị thánh nương nên nhân dân đã lập đền thờ 4 vị thánh nương và thờ luôn những người thân của họ là Vua Tống Kế Bính và 3 tướng thân tín của vua.
Tranh luận về thần chủ đền Cờn ngoài.
Hiện nay, có một số người cho rằng Đền Cờn ngoài là nơi thờ chính của Quan Hoàng Bơ. Theo quan niệm này, Quan Hoàng Bơ có giáng trần và hiện thân của ngài chính là Vua Trung Quốc Tống Đế Bính. Như vậy, là thần tích Quan Hoàng Bơ là Vua Nam Tống hoàn toàn khác với Quan Hoàng Bơ có ở đền Quan Hoàng Bơ ở Hàn Sơn và Đền Hưng Công – Thái Bình là người Việt Nam. Người viết bài này cho rằng việc cho rằng vua Tống Đế Bính là quan Hoàng Bơ giáng sinh có vẻ không hợp lý. Vua Tống Đế Bính chỉ mới phối thờ vào Đền Cờn ngoài từ đời Vua Gia Long đầu thế kỷ 19 chứ không phải đền cổ thờ vua Tống Đế Bính.
Như vậy, thần chủ chính của Đền Cờn ngoài chính là Quan Hoàng Chín chứ không phải là Quan Hoàng Bơ hay vua Tống Đế Bính. Về điều này, rất mong có được sự phản hồi của các bác tìm hiểu về ngôi đền này.
Trang phục của Quan Hoàng Chín
Quan Hoàng Chín rất ít khi về ngự đồng. Trang phục của ngài thường là màu đen, áo dài, khăn xếp theo dáng ông đồ nho ngày xưa,Bài trí phối thờ của Đền Quan Hoàng Chín (Đền Cờn ngoài)
Đền Cờn ngoài của 3 gian đại bái:
– Gian đài bái ngoài gồm: Cung chính giữa thờ Quan Hoàng Chín, Quan Hoàng Mười; bên phải, bên trái là cung thờ Quan Nam Tào, Quan Bắc Đẩu; hai đầu hồi là cung thờ Cậu bé, Cô bé bản đền.
– Gian đại bái thứ hai: Cung thờ Ngũ Vị Tôn Ông
– Gian thứ đại bái thứ ba: Thờ Vua Tống Đế Bính và 3 tướng của ông là: Lục Tú Phu, Lương Thế Kiệt và Văn Thiên Tường