Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124



母第二上𡶨
– Ngày Mão đầu tháng 02 AL
Nhạc Phủ [岳府] (miền rừng núi, cao nguyên)
Rừng núi, miền trung du, hang động, v.v…; gọi chung là Toà Sơn trang, Lâm Cung.
– Thượng Ngàn Lê Mại Đại Vương [上岸黎邁大王] (đồng nhất với Đệ Nhất Thượng Ngàn trong Tam Tòa Sơn Trang)
– Bạch Anh Công Chúa [白英公主]
– Sơn Lâm Công Chúa [山林公主]
– Lâm Cung Thánh Mẫu [林宮聖母]
– Bà Chúa Thượng Ngàn [婆主上𡶨]
– Bà Chúa Sơn Trang [婆主山莊]
– Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên [母第四岳仙]: trong các bản chầu văn, khi thứ tự các phủ được xếp là Thiên – Địa – Thoải – Nhạc
– Mỵ Nương Quế Hoa (媚娘桂花)
– La Bình Công Chúa
– Mẫu Đông Cuông
– Đền thờ chính: Đền Đông Cuông (cùng với Đền Vọng Đông và Đền Tuần Quán hình thành nên cụm di tích), Yên Bái
– Đền Công đồng Bắc Lệ và đền Thất Khê, Lạng Sơn
– Đền Suối Mỡ, Bắc Giang
– Đền Tam Cờ, Tuyên Quang
– Đền Mẫu Thượng, thị xã Lào Cai, Lai Châu
xanh lá
Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên (dân gian quen gọi Mẫu Thượng Ngàn) đứng đầu Nhạc Phủ là vị Thánh Mẫu cai quản miền rừng núi, cao nguyên, một trong bốn vị Tứ Phủ Thánh Mẫu.
Trong thần điện Tứ Phủ, Mẫu mặc trang phục xanh lá, thường ngồi bên tay phải của Mẫu Thiên Tiên.
Nhạc Phủ do Mẫu cai quản xuất phát từ tín ngưỡng thờ núi rừng của người Việt, sau này nhập với tam phủ Thiên – Địa – Thoải để hình thành nên Tứ Phủ. Vì vậy nên hình tượng Mẫu Thượng Ngàn cũng gắn liền với Tam Tòa Sơn Trang, tức ba vị mẫu thần đứng đầu tín ngưỡng thờ Sơn Trang.
Có người cho rằng Mẫu Thượng Ngàn chính là vị đứng đầu Tam tòa Sơn Trang. Cũng có người cho rằng toàn bộ Tam tòa Sơn Trang nằm dưới quyền Mẫu. Hoặc cả ba vị Tam tòa Sơn Trang đều là những hóa thân của Mẫu.
Theo hầu Mẫu Thượng Ngàn (hoặc Tam Tòa Sơn Trang) có Bát Bộ Sơn Trang và Thập Nhị Bộ Tiên Nàng.
Tương truyền, Mẫu Thượng Ngàn lấy ông họ Đỗ ở Đồng Đăng, hạ sinh được ông Đỗ Đống, Ông Đỗ Đống lấy bà Nguyễn Thị Tươi sinh ra 8 tướng phù giúp An Dương Vương, sau này hiển linh phù giúp Hai Bà Trưng và các đời Lý, Trần, Lê. Nhân dân ta gọi là Bát Bộ Sơn Trang, cai quản các lũng, các nương núi rừng.
Bát Bộ Sơn Trang bao gồm: Đỗ Trinh, Đỗ Triệu, Đỗ Hiệu, Đỗ Trung, Đỗ Bích, Đỗ Trương, Đỗ Cường, Đỗ Dũng.
Thập Nhị Bộ Tiên Nàng (hay còn gọi là 12 cô Sơn Trang) là 12 thánh cô đi theo hầu Mẫu Thượng Ngàn. Các cô tuy đôi lúc có về ngự đồng; nhưng đây không phải 12 vị Tứ Phủ Thánh Cô.
Vì có rất nhiều thần tích về Mẫu Thượng Ngàn, thậm chí có phần mâu thuẫn nhau, nên ở đây chỉ ưu tiên đăng lại những thần tích có thể dẫn nguồn từ các tư liệu uy tín.
Thần tích này liên quan đến đền Bắc Lệ, Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Mẫu Thượng Ngàn là con gái của Sơn Tinh (tức Vua Cha Nhạc Phủ) và Mỵ Nương Ngọc Hoa (媚娘玉花) trong truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh. (Mỵ Nương là danh hiệu gọi con gái của Hùng Vương, tương tự như “Công Chúa”).
Mẫu được cha mẹ đặt tên là La Bình. Khi còn trẻ là cô gái đức hạnh, tài sắc vẹn toàn; hay thường được cha cho đi cùng khắp mọi nơi. Vì thế nên La Bình học hỏi được nhiều điều. Thêm phần sáng dạ, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, tự chủ trong giao tiếp, thành thạo mọi việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, xem nàng là đại diện xứng đáng của Sơn Thánh.
Khi Sơn Tinh và Mỵ Nương Ngọc Hoa về trời theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế, La Bình thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi của nước Nam. Mẫu luôn chăm chỉ làm tròn các trọng trách của mình. Bà bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hòa hợp,… Bà cải tiến và hoàn thiện những gì mà trước kia cha của bà chỉ mới bắt đầu. Làm nhà không chỉ vững chải mà còn chạm trổ cho đẹp đẽ. Ở mũi các thuyền độc mộc khắc hình hai đầu rồng chạm hẳn vào nhau. Cách nấu nướng thức ăn có thêm nhiều món mới. Công việc đồng áng, bà cũng dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước từ khe núi xuống, phân phát hạt giống. Chăn nuôi thêm nhiều giống gia cầm gia súc, trồng trọt thêm những hoa thơm trái lạ.






Advertisement
Thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản Ẩm thì quân Minh kéo đến bao vây. Nghĩa quân chống cự không nổi, tan tác mỗi người một nơi. Một đêm, vua Lê mộng thấy một người con gái áo trắng hiện ra, nói rằng “Vua cứ dẫn quân đến ải Chi Lăng, đến ấy thần thiếp xin được hộ giá” rồi biến mất. Quả thực như vậy, vua dẫn quân đến ải Chi Lăng, bà đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hợp và dẫn dắc họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí Linh. Ánh đuốc thiêng của Mẫu chỉ quân sĩ của Lê Lợi biết được, quân Minh không thể nào nhìn thấy.
Ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Gian khổ không tài nào kể xiết; nhưng nhờ sự che chở của công chúa Thượng Ngàn, quân đội Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh.
Để ghi nhớ công ơn phù âm giúp đỡ của bà, đền Mẫu Thượng Ngàn tại Bắc Lệ được dựng lên. Những người đi rừng muốn được bình yên, vạn sự tai qua nạn khỏi, thường đến cầu xin sự che chở, phù trợ. Ai muốn săn bắt hay khai thác thứ gì trong rừng cũng đặt lễ, thắp hương, cầu xin để được Mẫu chấp thuận.
Sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ phong bà là Lê Mại Đại Vương, hiệu viết Bạch Anh Công Chúa Quản Trưởng Sơn Lâm Sơn Trang, chữ Bạch Anh Công Chúa dịch nghĩa ra là “người con gái áo trắng” vì không biết hiệu của Mẫu.


Tháng 11/1426, quân khởi nghĩa Lam Sơn đại phá quân Minh trong trận Tốt Động – Chúc Động. Năm vạn quân Minh bị diệt, hơn một vạn quân bị bắt sống, chưa kể số chạy qua sông Ninh Giang bị chết đuối. Bản thân Vương Thông bị thương. Kế hoạch dùng 10 vạn quân để phản công của Vương Thông bị sụp đổ khiến viên tướng này phải cố thủ trong thành Đông Quan.
Vương Thông bí thế muốn đầu hàng, bèn viết thư xin giảng hòa để rút toàn quân về. Lê Lợi đã bằng lòng, sai người đi làm giao ước. Tuy nhiên, lúc đó các tướng người Việt là Trần Phong và Lương Nhữ Hốt sợ khi quân Minh rút về thì bản thân mình sẽ bị giết, bèn nói với Vương Thông:
“Trước đây quân Ô Mã Nhi bị thua ở sông Bạch Đằng, mang toàn quân quy hàng, Hưng Đạo Vương bằng lòng cho, nhưng lại dùng kế lấy thuyền to chở quân cho về, rồi sai người bơi giỏi sung vào làm phu chở thuyền. Đang đêm ra đến ngoài biển, rình lúc quân Ô Mã Nhi ngủ say, lặn xuống đục thuyền, làm cho những người đã quy hàng chết đuối, không ai sống sót trở về được.”
Vương Thông nghe vậy hoảng sợ, nghi ngờ Lê Lợi, bề ngoài tuy nói giảng hòa nhưng bề trong sai người đào hào, rắc chông để phòng thủ và viết thư xin cầu viện vua Minh Tuyên Tông. Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh Việt Nam thời nhà Hồ và nhà Hậu Trần.
Quân của vua Lê sức mỏng lực kiệt, không đủ sức đánh đuổi được giặc mạnh. Mẫu Thượng Ngàn mới mách cho cách diệt giặc phải đánh chặn ngay từ Chi Lăng. Chặn được đường tiến công của Liễu Thăng tại Chi Lăng thì quân Mộc Thạnh tự khắc rút lui.
Tháng 9/1427, Liễu Thăng đi đường Quảng Tây, Mộc Thạnh đi đường Vân Nam sang cứu Vương Thông. Đường Liễu Thăng đi dự tính từ Lạng Sơn, qua Xương Giang để vào Đông Quan. Lê Lợi sai Lê Sát, Lê Văn Linh và Lưu Nhân Chú mang 2 vạn quân và 5 voi trận lên ải Chi Lăng đón đánh.
Lúc bấy giờ, Chầu Mười Đồng Mỏ, hóa thân của Thánh Mẫu Thượng Ngàn mới hô các quân Mường, quân Mán từ 81 cửa ngàn, 36 cửa rừng và 16 cửa bể đến Bắc Lệ, chiếm lại thành Xương Giang từ tay giặc, phò minh quân dẹp giặc. Lúc đó Mẫu sắc sai Chầu Năm trấn ngay cửa rừng Suối Lân, khi nào thấy giặc đến thì đem quân ngàn ra mà đánh. Mế Lục trấn tại cánh Hữu Lũng, Mế Bé trấn ở Voi Xô. Trên đèo Kẻng, Mẫu cho dàn quân, Bát Bộ Sơn Trang chia ra trấn từng vùng từng phương khắp vùng Quan Lạng. Mẫu cùng Đệ Nhị Sơn Trang Diệu Tín và Đệ Tam Sơn Trang Diệu Nghĩa đứng trên núi Mỏ Ba quan sát, chỉ đạo trận chiến.
Mẫu báo cho vua phải giả thua để dụ giặc vào trận mai phục tại ải Chi Lăng. Đồng thời Mẫu cũng báo cho vua ba tử huyệt của Liễu Thăng là đôi mắt, gáy và rốn; hãy dụ đánh đến trên núi mặt quỷ, dưới gốc cây to, khi nào thấy hắn ôm mặt thì chém sau gáy.
Y theo lời Mẫu, ngày 8/10, cánh quân Liễu Thăng tiến vào Việt Nam. Lê Sát đặt phục binh ở Chi Lăng rồi sai tướng giữ ải là Trần Lựu mang quân ra đánh nhử, giả thua, trước tiên bỏ ải Pha Lũy về ải Chi Lăng. Quân Minh hăng hái tiến lên giành ải Pha Lũy, rồi tiến đến Chi Lăng.
Mẫu đứng trên khu đất, nay là đền Mỏ Ba, hóa phép ra đàn ong đốt vào mắt quân địch. Liễu Thăng bị đốt vào mắt, ôm mặt, liền bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết. Khốn thay, loài ong đốt xong mất ngòi cũng chết, thế nên Chầu Mười hóa vào ngày 20/9 âm lịch. Nhân gian mới có câu:”Cuối thu mãn hạn về tiên
Nhân dân kỷ niệm lập đền Mỏ Ba.“―Chầu văn Chầu Mười Đồng Mỏ
Sau khi Liễu Thăng bị chém đầu, chỉ quy quân Minh là Lương Minh. Quân Lam Sơn viết thư khuyên Lương Minh rút quân, nhưng viên tướng này không chịu khuất phục mà vẫn tiếp tục dẫn quân (còn khoảng 9 vạn) về Cần Trạm (nay là thị trấn Kép và các địa phương lân cận). Ngày 15/10, quân Minh đến Cần Trạm. Quân Lam Sơ gồm 3 vạn quân của Lê Lý, Lê Văn An cùng với 1 vạn quân của Lê Sát và Lưu Nhân Chú từ Chi Lăng rút về đã tổ chức mai phục và tập kích đối phương. Quân Minh bị thiệt hại nặng nề. Chỉ huy Lương Minh tử trận, thay bằng Đô đốc Thôi Tụ. Quân Minh vẫn tiếp tục tiến lên. Ngày 18/10, quân Lam Sơn phục binh ở Phố Cát, giết 1 vạn quân Minh. Lý Khánh phải tự tử. Lực lượng còn lại của nhà Minh dưới sự chỉ huy của Thôi Tụ, Hoàng Phúc, trên đường đi bị quân Mán quân Mường phục kich giết hơn nửa.
Advertisement
Thần tích này liên quan đến đền Suối Mỡ, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, Bắc Giang (tương truyền đền được xây dựng vào thời Lê).
Vào thời vua Hùng Vương thứ 9, Hùng Định Vương (雄定王, 1331 – 1252 TCN), Hoàng hậu mang thai mãi không sinh nở được. Tất cả mọi người ai cũng lo sợ, nhưng sau cũng thấy quen dần. Đến năm thứ ba, Hoàng hậu dạo chơi trong rừng thì cơn đau đẻ ập đến. Bà ôm chặt thân cây quế, sinh hạ được một cô con gái rồi kiệt sức mà qua đời. Vương nữ được vua cha yêu quý, đặt danh hiệu Mỵ Nương Quế Hoa.
Mỵ Nương Quế Hoa lớn lên vừa ngoan ngoãn vừa xinh đẹp. Đến tuổi cập kê nàng vẫn màng hôn sự, chỉ hằng mong nhớ người mẹ quá cố của mình. Sau khi biết rõ sự tình, Mỵ nương quyết chí đi vào rừng tìm mẹ; để rồi từ đó chứng kiến những cảnh đói nghèo cơ cực của muôn dân. Nàng luôn trăn trở tìm cách giúp đỡ những người dân lành cực khổ kia.
Một đêm, giữa rừng núi âm u, nàng linh cảm thấy hơi ấm của người mẹ đã sinh ra mình. Nàng thốt lên gọi: “Mẹ ơi… mẹ ơi…” Đồng cảm với nỗi lòng của Mỵ Nương, một ông tiên hiện lên trao cho nàng phép thần thông, có thể dời núi, lấp sông, cứu giúp dân lành, luyện phép trường sinh. Có được phép thần và sách tiên, Mỵ Nương cùng 12 thị nữ ra sức đi giúp đỡ người dân nghèo, mang lại cho họ cuộc sống ấm no.
Một hôm, trên trời có đám mây ngũ sắc hạ xuống đón Mỵ Nương Quế Hoa và 12 thị nữ lên trời. Nhân dân đã lập đền thờ, tôn vinh Mỵ Nương Quế Hoa là Chúa Thượng Ngàn, hằng năm mở hội vào mùng 1/4 âm lịch để ghi nhớ công tích của Thánh Mẫu.
Những truyền thuyết dưới đây hiện không rõ nguồn:
Advertisement
Sau khi bị Kinh Dương Vương đánh đuổi, Mộc Tinh sợ hãi chạy về hướng Tây Nam, tại đây nó vẫn giở trò cũ thường xuyên bắt người dân trong vùng làm lễ tế người. Mẫu Thượng Ngàn biết chuyện giận lắm, định dùng rìu để chặt đổ cây, nào ngờ thân cây quá cứng dù chặt bao nhiêu lần cũng không sứt mẻ tí nào. Mẫu Thượng Ngàn bèn dùng phép hóa thành một con sâu tinh rồi chui vào trong thân cây khiến Mộc Tinh đau đớn vô cùng vội vàng xin tha. Nó hứa rằng sẽ không ăn thịt người nữa và tặng bà một giống thần sau đó hóa thành một con hổ rồi chạy mất. Mẫu Thượng Ngàn đem hạt giống này về trồng, không lâu sau nó lớn thành một cái cây to thật là to, cành lá xum xuê che phủ một nửa bầu trời, hàng năm đều mọc ra hàng trăm thứ quả khác nhau. Bà thu hoạch tất cả và đem cho cha mình và các vị thần cùng ăn, ai nấy dùng xong đều tấm tắc khen ngon chỉ trừ một tiên nữ chê dở. Nghe vậy Mẫu Thượng Ngàn quyết định không bao giờ cho mọi người được ăn loại quả này nữa. Về phía cô gái kia thì bị các vị thần phạt hóa thành con ruồi để suốt phần đời còn lại chỉ được ăn đồ thừa của con người mà thôi.
Hùng Vương thứ IX là một vị vua anh minh, thương dân như con, cũng vì vậy mà được trời phù hộ giúp cho con đàn cháu đống. Nào ngờ trong một lần đi săn, ông vô tình bị Quỷ Xương Cuồng ăn thịt. Nó nhân cơ hội này dùng phép hóa thành ông để trở thành vua. Từ ngày làm vua thì Quỷ Xương Cuồng không màng việc nước, chỉ đam mê rượu chè và gái đẹp, những người chống đối đều bị nó ăn thịt cả. Lần này Mẫu Thượng Ngàn quyết không để cho Quỷ Xương Cuồng có thể chạy thoát được nữa nên hóa thành một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Chẳng bao lâu danh tiếng của bà truyền tới tai nhà vua nên được mời vào cung giúp vui. Quỷ Xương Cuồng biết bà là Mẫu Thượng Ngàn bèn bảo một khi tiếng sáo mà dừng thì bà sẽ bị giết. Khi tiếng sáo của bà vừa cất lên thì ai nấy đều cảm thấy thư thái, mọi âu lo đều bị quên lãng, thời gian trôi qua lúc nào không hay. Tới đêm thứ bảy khi tiếng sáo vừa dứt thì Quỷ Xương Cuồng đã hiện nguyên hình thành một con hổ khiến mọi người hoảng loạn bỏ chạy. Mẫu Thượng Ngàn dùng phép nhốt con hổ vào lồng và luôn giữ nó bên mình. Từ đó về sau phàm những ai phạm tội phá rừng đều bị bà đem cho hổ ăn thịt cả.
Một lần khi đang đi dạo trong rừng, Mẫu Thượng Ngàn phát hiện thấy xác một đứa trẻ chỉ còn lại bộ xương khô bên gốc cây. Tiếc thương vì cậu bé đã chết khi còn quá nhỏ nên Mẫu Thương Ngàn đã dùng phép hòa lẫn xương cậu cùng gan hùm, tay gấu, ruột ngựa, mắt diều hầu, chân báo cùng quả tim của bà để hồi sinh cậu. Mẫu vốn không có con cái gì, lại thấy cậu bé lanh lợi nên đã quyết định nhận cậu làm con nuôi, đặt tên là Sơn Tinh, giao cai quản vùng núi Ba Vì.
Một số truyện đề cập rằng bà mất trong cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sau khi mất thì bà trở lại Thiên Phủ sống cùng cha mình nhưng vì quá thương con nên bà đã cầu xin cha được phép trở lại trần gian. Ngọc Hoàng đồng ý bèn cho bà được đầu thai trở lại làm con gái của Sơn Tinh.
Advertisement
Có thuyết cho rằng Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn chính là một trong những hóa thân của Mẫu Thượng Ngàn. Vì vậy nên những thần tích của Chầu cũng chính là của Mẫu.



=-================================
==============================
Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn là vị thánh Mẫu thuộc hệ thống Tam Tòa Thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ cúng của người Việt, bên cạnh Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Thoải. Bà là vị thần cai quản và là hồn thiêng của vùng núi non và các cửa rừng ở khắp mọi nơi. Mẫu Thượng Ngàn bao đời dõi theo dẫn dắt con cháu đi lên. Dưới sự cai quản của Ngài, người dân mùa màng nào cũng bội thu, đợt đi săn nào cũng bắt được thú lớn. Vì vậy, nhân dân hết mực tôn kính và lập đền thờ phụng Bà ở rất nhiều nơi trên cả nước.
NỘI DUNG [ẩn]
Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn còn có các danh hiệu khác là: Sơn Lâm Công Chúa, Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên, Diệu Tín, Diệu Nghĩa Thiền sư, Lê Mại Đại Vương, Đông Cuông Công chúa, Lâm Cung Thánh mẫu, Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ, Bà Chúa Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang,…
Hình ảnh mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn theo nét vẽ tranh dân gian Hàng Trống:

Có rất nhiều sự tích nói về về hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn. Tuy những câu chuyện này đều không miêu tả rõ ràng về lai lịch của Bà, nhưng đều mang những ý nghĩa tôn kính gắn với những truyền thuyết của người Việt và được lưu truyền rộng rãi qua nhiều thế hệ.
Xem thêm: Sự tích Mẫu Liễu Hạnh 3 lần giáng hạ trần thế.
Theo thần tích này, hiện thân của Bà là con gái của Sơn Tinh (Tản Viên Sơn Thánh) và công chúa Mỵ Nương (con gái vua Hùng).
Bà được cha mẹ đặt tên là La Bình, từ nhỏ luôn theo cha đi đến khắp mọi miền núi non hang động để giúp dân làm ăn, chỉ dân cách chăn nuôi, xây dựng nhà cửa xóm làng,… Dưới sự quan sát và dạy dỗ của phụ mẫu cùng sự nhạy bén trong nhận thức trong những ngày đi theo cha, La Bình lớn lên trở thành cô gái đức hạnh, thông minh sáng dạ, tài sắc vẹn toàn. Cô thường đến những nơi dân chúng cần để chỉ bảo nhân dân thay cha mỗi khi cha bận việc hay không thể đi. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra khí chất bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp và thành thạo trong mọi công việc. Cô được các sơn thần, tù trưởng và dân sinh vô cùng yêu quý, kính trọng và coi là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh. Bản thân cô cũng rất đỗi hòa hợp với mọi người và cả cỏ cây, hoa lá, chim muông xung quanh.
Khi Tản Viên và Mỵ Nương theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế về trời và trở thành hai vị thánh bất tử, La Bình cũng được phong là Công chúa Thượng Ngàn. Cô tiếp tục thay cha đảm nhận công việc dưới trần, trông coi tất cả 81 cửa rừng và các vùng núi non, hang động, trung du ở khắp mọi miền đất nước.
Khi trở thành chúa Thượng Ngàn, Bà vẫn luôn luôn tận tâm ra sức làm tròn các trọng trách của mình và không ngừng học hỏi tiếp thu. Ngoài việc dạy bảo con người như những gì cha bà đã dạy, bà vẫn luôn học hỏi kinh nghiệm từ các tù trường, sơn thần các vùng. Cũng như bảo ban các loài chim muông, cầm thú cách sống hòa hợp, an toàn và tránh được nguy hiểm thiên tai.
Không chỉ vậy, Bà còn toàn tâm toàn ý nghĩ ra cách cải tiến và hoàn thiện thêm những gì mà trước kia, cha bà mới chỉ là bắt đầu. Nhờ vậy, nhân dân không những được sống no đủ mà còn được tận hưởng cái đẹp, cái hay. Những ngôi nhà bấy giờ không chỉ chắc chắn mà còn được trang trí, chạm trổ đẹp đẽ. Ở mũi các thuyền độc mộc cũng có khắc cả hình hai đầu rồng hoa văn tinh xảo, uy nghi. Các món ăn giờ đấy không còn đơn thuần là luộc, kho mà còn được sáng tạo nhiều cách nấu mới. Công việc đồng áng đã có sự giúp sức từ các ống dẫn nước, phân phát hạt giống đi mọi nơi. Bà còn đem về thêm nhiều giống gia súc mới và hoa thơm cỏ lạ.
Ngọc Hoàng Thượng đế thấy được những điều đó đã ban tặng cho bà thêm nhiều phép thuật thần thông và Bà trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với những nơi có miền trung du núi non hùng vĩ cõi trần và âm phù cho sự bình yên của mọi người dân nước Việt. Nhất là trong các cuộc chiến công quân sự của các triều đại Việt Nam. Tiêu biểu là trong khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, Bà đã hóa thành bó đuốc lớn soi đường cho quân sĩ trong đêm tối và dẫn dắt tướng lính Lam Sơn đi tới vùng đất Mường Yên về cơ sở núi Chí Linh, tránh được sự bao vây của quân Minh vào đúng lúc lực lượng quân ta đang suy yếu. Bà linh thiêng đến mức chỉ quân sĩ của Lê Lợi biết được, còn quân Minh không thể nào nhìn thấy. Nhớ ơn sự phù hộ che chở của công chúa Thượng Ngàn, sau khi hòa bình được lập lai, vua phong Bà là Lê Mại Đại Vương diệu tín thiền sư. Còn nhân dân tôn xưng bà là Chúa Thượng Ngàn hay Mẫu Thượng Ngàn.
Theo thần tích này, hiện thân của Bà là Mỵ Nương Quế Hoa, con gái của Vua Hùng Định Vương và Hoàng hậu An Nương. Lúc bấy giờ, Hoàng hậu mang thai công chúa đã quá kỳ mà vẫn chưa sinh nở được. Đến năm thứ ba, Hoàng Hậu đang đi trong rừng thì cơn đau đẻ ập tới, khiến bà đau quá phải vịn vào cành quế mới sinh hạ được. Nhưng không may, vì quá kiệt sức nên Hoàng Hậu đã qua đời sau khi sinh công chúa. Vua Hùng Vương hết lòng thương tiếc và đặt tên cho con gái là Quế Hoa, để ghi dấu về sự ra đời của cô. Quế Hoa từ nhỏ đến lớn một lòng luôn nhớ thương mẹ và khi trưởng thành, nàng đã đi vào rừng sâu nơi mình sinh ra để tìm dấu vết người mẹ hiền. Tại đây, công chúa cũng đã chứng kiến biết bao cảnh tượng đói nghèo cơ cực của dân làng sống trong rừng núi âm u, hoang xác khiến cô vô cùng trăn trở, thương xót. Được tiên ông đồng cảm ban cho phép thuật, nàng đã cùng 12 thị nữ ra sức cứu giúp dân nghèo và giúp cuộc sống bản làng nơi đây trở nên tốt đẹp hơn. Khi nhân dân các bản mường đã có cuộc sống no ấm, bản làng xây dựng trù phú, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc.
Kể từ đó, nhân dân đã lập đền thờ và tôn Quế Hoa công chúa là Chúa Thượng Ngàn. Một trong những vùng được lưu truyền về sự xuất hiện của Quế Hoa công chúa chính là vùng núi Vực Mỡ thuộc địa phận quần thể di tích Suối Mỡ tại Bắc Giang ngày nay. Sinh thời, Mỵ Nương Quế Hoa đã có công mở thác Vực Mỡ đưa nước về bản để dân trồng trọt chăn nuôi. Ngày nay, nơi đây nổi tiếng với 5 ngọn thác nước tương truyền là 5 ngón tay của công chúa luôn tuôn ra dòng nước mát tốt tươi.
Tại một số vùng, Mẫu Đệ Nhị được coi là Chúa Đông Cuông hoặc Chúa Sơn Trang. Khi Mẫu Thượng Ngàn giáng đồng tung khăn, người ta gọi đó là giá Chúa Sơn Trang hay Chúa Đông Cuông. Mẫu Đệ Nhị cũng là vị Thánh Mẫu duy nhất về giáng đồng và tung khăn, trong khi các vị Thánh Mẫu khác chỉ tráng bóng, không tung khăn.
Thánh Mẫu Thượng Ngàn anh linh luôn chở che, phù trợ cho những con nhang, đệ tử nhất tâm cầu khấn. Do đó, cứ đến ngày rằm mùng một, những ngày đầu xuân năm mới hay tại những ngày tiệc Bà ở các đền thờ Mẫu, khách hành hương từ khắp nơi lại đổ về các chốn du lịch tâm linh và mang theo mâm lễ vật thành tâm.
Xem thêm: Sự tích 3 lần giáng thế của Mẫu Liễu Hạnh – những đền thờ mẫu Liễu Hạnh hiện nay
Thông thường, các con hương sắm một mâm lễ đầy đủ gồm các thức lễ chay mặn tùy tâm. Trong đó, Oản là vật phẩm được nhiều người lựa chọn để dâng lễ Thánh Mẫu cho thêm phần trang trọng và thành kính. Đồng thời oản vừa đẹp lại có thể để lâu không bị mốc hỏng, vô cùng thích hợp bày trên ban thờ Thánh Mẫu trong thời gian dài.
Với quanh oản dâng lễ Mẫu Đệ Nhị, người ta thường dâng oản xanh lá, ứng với màu sắc đại diện của Nhạc Phủ. Tham khảo mẫu Oản nghệ thuật đẹp nhất dâng Mẫu Đệ Nhị tại Oản cô Tâm như sau:



Oản Tài Lộc dâng lễ Tứ Phủ – Gia Tiên – Phật – Thần Tài là loại sản phẩm được Oản Cô Tâm đầu tư tâm huyết và dày công nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng thờ cúng thiêng liêng của người Việt để tạo nên những mẫu oản sang trọng, đẹp mắt lại hợp với văn hóa cúng lễ này. Khách hàng đặt oản thương hiệu Cô Tâm sẽ hoàn toàn an tâm về cả mẫu mã và chất lượng sản phẩm.
Đền Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn được lập ra tại nhiều nơi trên cả nước để ghi nhớ công ơn Ngài,nhưng tiêu biểu nhất vẫn là ba nơi thờ tự gắn liền với sự hiển linh của Bà là đền thờ ở Suối Mỡ, đền Bắc Lệ.
Đền Suối Mỡ thuộc khi di tích Suối Mỡ thuộc xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tại quần thể di tích này, có ba ngôi đền Thượng, Trung, Hạ cùng thờ chung vị Mẫu Thượng Ngàn cùng truyền thuyết về Mỵ Nương Quế Hoa công chúa.

Quý khách có nhu cầu tìm hiểu về 3 ngôi đền thờ Bà và kinh nghiệm du lịch tâm linh và dâng lễ đền Suối Mỡ có thể tham khảo tại: Đền Suối Mỡ – những thông tin cần biết trước khi hành hương
Đền Bắc Lệ nằm tại xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, tương truyền được vua Lê lập ra để ghi nhớ công ơn âm phù của Mẫu Thượng Ngàn La Bình trong trận khởi nghĩa Lam Sơn.
Hiện nay, vẫn chưa xác định được chính xác thời điểm xây dựng đền. Đến ngày nay, sau rất nhiều lần tu sửa và tôn tạo, tòa nhà chính tại đền Công Đồng Bắc Lệ là nơi thờ Tam Tòa Thánh Mẫu (Mẫu Đệ Nhất, Mẫu Đệ Nhị và Mẫu Đệ Tam) và các tượng thờ các vị thần linh như Ngũ Vị Tôn Ông, Tứ Phủ Chầu Bà, Tứ Phủ Quan Hoàng, Cô, Cậu,… Bên cạnh đó, còn có các gian nhà nhỏ thờ Chầu Bé Bắc Lệ và bàn thờ Ngũ Hổ ngoài trời. Đền còn nổi tiếng với sự tích Chầu Bé được coi là người dân ở vùng Bắc Lệ, có thể thay mặt Mẫu Thượng Ngàn thực hiện các ý đồ sáng tạo.
Ngày hội chính của đền là ngày 20/9 âm lịch thường niên, được nhân dân địa phương coi là cái tết lớn nhất năm và tổ chức vô cùng linh đình.
(dùng để hát khi hầu giá Chúa Thượng Ngàn)
Lòng kính tin hương dâng một triện
Thỉnh Chúa bà ứng hiện chân nhang
Quyền bà cai các cửa ngàn
Quản tri các bộ sơn trang tung hoành
Tiếng anh linh vang lừng thế giới
Sắc tặng phong Lê Mại đại vương
Thông minh chính trực cương thường
Lại thêm tinh tú đoan trang hay là
Vốn sinh ra hình dong tươi tốt
Da tựa ngà má phấn môi son
Hài xanh dạo bước lên non
Dạy chim oanh hót véo von chào mừng
Các cửa rừng ba mươi sáu động
Đức oai danh thú phục cầm kinh
Khi vui chơi chốn hữu tình
Khi buồn Chúa lại tung hoành càn khôn
Khi Lạng Sơn Đồng Đăng Ao Cá
Khi lại về Thanh Hóa Nghệ An
Có khi chơi cảnh Đồi Ngang
Có khi Thuận Hóa Quảng An ra vào
Chí tiêu dao bầu trời cảnh phật
Phép thần thông nhiệm nhặt càng ghê
Có phen Chúa ngự Thất Khê
Công Đồng Bắc Lệ đi về sớm hôm
Có phen ngự Đông Cuông thú cảnh
Mắc võng đào ngự đỉnh non cao
Hà Giang Bắc Mục ra vào
Sơn lâm vắng vẻ tiêu dao tính tình
Non cao đàn hát tập tành
Chúa Mường Chúa Mán cảnh thanh chơi bời
Trên núi đoài ngàn xanh mây thắm
Dưới suối ngàn đá trắng nền xanh
Trên ngàn dưới suối hữu tình
Chim kêu vượn hót trên cành cây cao
Gà rừng khuya sớm ra vào
Chim kêu vượn hót xôn xao đùa cười
Cáo cầy ríu rít tức thời
Bốn phương rừng núi thảnh thơi non bồng
Thỉnh Chúa giáng ngự đàn trung
Khuông phù đệ tử thiên xuân thọ trường
Trấn sơn lâm Nhạc Tiên Vương Mẫu
Quản thượng ngàn ba mươi sáu động tiên
Hiệu danh Lê Mại Chúa Tiên
Bạch Anh công Chúa cầm quyền sơn lâm
Âm dương khí hợp thần hun đúc
Vòng càn khôn vũ trụ thai sinh
Vốn xưa giá ngự thiên đình
Quyền cai nhạc phủ rừng xanh ra vào
Ra hiệu lệnh võng đào đón rước
Thổ mán mèo sau trước phục tâm
Ơn nhờ Thánh Mẫu sơn lâm
Chở che làng bản thôn dân an lành
Lòng mộ Phật tu hành sớm tối
Cõi thiền na dốc chí bền tâm
Từ bi ứng hóa hiện thân
Có phen hóa hiện thôn dân đi rừng
Có phen biến người nùng người thổ
Có phen thời thuần hổ luyện voi
Hóa sinh sinh hóa kiếp người
Sơn Lâm Công Chúa chính ngôi La Bình
Theo đức Thánh Sơn Tinh tuần thú
Dạy muôn loài báo hổ chim muông
Dạy dân phát rẫy làm nương
Dạy cho chim hót líu lường líu lô
Nước cam lộ từ bi đượm khắp
Ứng hóa thân cứu độ muôn loài
Hóa sinh sinh hóa muôn nơi
Dấu chân ghi để muôn đời khắc ghi
Cảnh núi Giùm vạn niên lịch đại
Đất Tuyên Quang còn mãi truyền ghi
Đền thờ lồng lộng uy nghi
Thượng Ngàn Thánh Mẫu độ trì bốn phương
Khi hiển thánh Đông Cuông Yên Bái
Giữ đạo nhà nữ tắc tài hoa
Ngát hương dòng dõi Lê gia
Mãn trần xa giá gần xa mến lòng
Khắp mọi vùng nhớ công ơn đức
Lập đền thờ chầu chực khói hương
Bảng vàng Lê mại đại vương
Phù Lê gây dựng giang sơn thái hòa
Khắp Nam Bắc gần xa mến phục
Đội ơn người giáng phúc giáng ân
Chữ rằng sở nguyện tòng tâm
Mẫu vương lưu phúc thiên xuân thọ trường
Anh linh hiển hách Chúa Sơn Trang
Cai quản ba mươi sáu cửa ngàn
Lúc ngự lầu son cùng phủ tía
Khi chơi núi ngọc với non vàng
Gươm thiêng một buổi ra oai phép
Loài giặc Liễu Thăng phút phá tan
Thái tổ Lê triều ban sắc tặng
Danh thơm lừng lẫy khắp Nam bang
Tam quang chiếu bao la thế giới
Vầng nguyệt soi chói lọi nam thiên
Đền thờ phong nguyệt vô biên
Gió thu dìu dặt chuông rền nhặt khoan
Trịnh niềm đan nhớ xưa tích cũ
Chốn lạc châu thuỷ tú sơn tinh
Đông Cuông công chúa giáng sinh
Giáng vào lệnh tộc phúc lành quyền cao
Miền xà thuỷ màn trao dưới trướng
Chúa giáng trần thoang thoảng mùi hương
Hồng hoà sáng khắp bốn phương
Định sinh công chúa ai đương sánh tày
Hằng chải chuốt đêm ngày dưỡng dục
Giá so bằng vàng ngọc nết na
Nhỡn tinh sao đẩu Ngân Hà
Môi son má phấn tóc đà sở vân
Giá thanh tân dịu dàng cách điệu
Đoá phù dung dương liễu nhởn nhơ
Vẻ nào mà chẳng trai lơ
Hoa xuân mới nhú nguyệt thu đương tròn
Giá so bằng kim côn ngọc lệ
Nét đan thanh ai vẽ cho bì
Gồm lo đức tính dung nghi
Giá so Tống Tử sánh bì Tề Khương
Ánh xuân quang tuổi vừa ngoại kỷ
Mãn cõi trần phút đã lên tiên
Thần thông biến hoá vô biên
Phàm trần ai biết phép tiên ẩn hình
Đông Cuông sơn thuỷ hữu tình
Chúa thường trắc giáng hiện hình bách ban
Danh tiên chúa trên ngàn lừng lẫy
Hoá phép màu đã dậy thần linh
Sắc phong thượng đẳng tối linh
Tà thần cũng phục yêu tinh hàng đầu
Khắp đâu đâu nức danh đều biết
Chúa Thượng Ngàn lẫm liệt thần cơ
Tụ Long Bảo Lạc Tam Cờ
Sông Thao sông Cả sông Bờ sông Dâu
Khắp các châu nức danh thần nữ
Tự Lê triều quốc sử còn ghi
Danh thơm Nam Bắc Trung kì
Bảo dân hộ quốc độ trì tứ phương
Sắc Lê Mại Đại Vương trường trị
Đông Cuông từ đích vị danh lam
Chim kêu vượn hót trên ngàn
Tả thời bạch hổ hữu đoàn thanh long
Dòng bích lãng nước trong leo lẻo
Giải Tô giang uốn éo xinh ghê
Thông reo trúc hoạ tứ bề
Đền thờ cao ngất trông về Bắc Kinh
Cảnh thanh tú bên ghềnh trị thuỷ
Chúa giáng trần trấn trị yêu ma
Chúa về trắc giáng điện toà
Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường
=-===================================
==================================
===============
Mẫu Thượng Ngàn còn gọi là Mẫu Đệ Nhị hay Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn bởi Mẫu đứng thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu. Mẫu Thượng Ngàn là ai, nguồn gốc của Mẫu thế nào chắc chắn là điều rất nhiều người quan tâm.
Với Mẫu Liễu Hạnh thì thần tích khá rõ ràng, còn với Mẫu Thượng Ngàn với mỗi tên gọi thường đi kèm một sự tích khác nhau. Mẫu Thượng Ngàn có rất nhiều tên gọi như: Diệu Tín Thiền sư, Lê Mại Đại Vương, Đông Cuông Công chúa, Lâm Cung Thánh mẫu, Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ, Sơn Tinh công chúa…
Mẫu Thượng Ngàn được thờ chủ yếu tại vùng rừng núi. Có thể nói, ở đâu có rừng núi thì ở đó có đền thờ Mẫu Thượng Ngàn. Có ba nơi được coi là nơi thờ chính là Bắc Lệ (Lạng Sơn), Suối Mỡ (Bắc Giang) và Đông Cuông (Yên Bái). Tuy vậy, ba nơi nàylại lưu giữ những truyền thuyết có phần khác nhau về Mẫu Thượng Ngàn.
Mẫu Thượng Ngàn có nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc của Mẫu, địa danh đền của Mẫu, sắc phong của các triều đại phong kiến:
– Mẫu Đông Cuông được gọi theo địa danh Đông Cuông nơi ngôi đền ngự.
– Diệu Tín Thiền sư là cách gọi khi Mẫu đã đắc đạo chân như nhà Phật.
– Lê Mại Đại Vương theo sắc phong của vua Lê.
– Mỵ Nương Quế Hoa Công chúa, La Bình công Chúa theo tên gọi của nguồn gốc xuất thân.
– Lâm Cung Thánh Mẫu có thể là tên gọi khi hiển thánh tại đền Đông Cuông.
Trong các ngôi đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn như: Đền Đông Cuông, đền Suối Mỡ, đền Bắc Lệ thì đền Đông Cuông là nơi Mẫu được vua Lê sắc phong Lê Mại Đại Vương. Nếu đặt trong tương quan so sánh với đền Bắc Lệ và Suối Mỡ thì đền Đông Cuông rõ ràng có vị trí quan trọng nhất, là nơi thờ chính Mẫu Thượng ngàn. Tuy nhiên, điều kì lạ là khi nhắc đến các nơi thờ Chúa Sơn trang, người ta lại biết đến đền Bắc Lệ và đền Suối Mỡ nhiều hơn.
Như vậy, căn cứ theo truyền thuyết và các bản văn chầu thì đền Bắc Lệ chính là nơi Lâm Cung Thánh Mẫu hiển linh, âm phù; đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết bà tu tiên luyện đạo còn đền Đông Cuông (Yên Bái) là nơi bà giáng sinh và ngự.
Mẫu Thượng Ngàn được thờ ở Suối Mỡ là Mỵ Nương Quế Hoa công chúa, con của Vua Hùng Định Vương và hoàng hậu An Nương. Hoàng hậu sinh ra nàng bên gốc quế rồi mất. Lớn lên, Quế Hoa luôn nhớ thương mẹ nên đã đi vào rừng sâu để tìm dấu vết người mẹ hiền. Nàng được tiên ông ban cho phép thuật nên đã cùng 12 thị nữ ra sức tu tiên luyện đạo, cứu giúp dân lành. Khi nhân dân các bản mường đã có cuộc sống no ấm, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc.
Tại khu du lịch tâm linh Suối Mỡ có 3 ngôi đền Đền Hạ – còn gọi là đền Công Đồng Suối Mỡ, đền Trung và đền Thượng đều là nơi thờ của Quế Hoa Công Chúa.
Ở đền Bắc Lệ lại lưu truyền câu chuyện Mẫu Thượng ngàn là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh, cháu ngoại vua Hùng. Nàng thường cùng với cha đi chu du các bản mường, hang động, giúp cho cuộc sống dân lành được sung túc. . Vào thời Lê, bà đã hiển linh, âm phù, hóa thành bó đuốc dẫn quan quân Lê Lợi thoát khỏi sự truy kích của quân giặc. Công cuộc bình Ngô đại thắng, Lê lợi lên làm vua và cho dựng đền Bắc Lệ để ghi nhớ công ơn của bà.
Dưới đây là tóm tắt về thân thế của La Bình Công Chúa:
La Bình Công chúa là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và Mỵ Nương. Tức La Bình là cháu ngoại của Vua Hùng. Lúc còn nhỏ, La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng để dậy dân săn bắn, chăn nuôi, trồng cây, cấy lúa, làm nhà, làm thuốc chữa bệnh… Đó luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh.
Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là Công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.
Ở đền Đông Cuông, hình tượng Chúa Thượng ngàn cai quản 81 cửa rừng có sự pha trộn, chồng lớp bởi rất nhiều truyền thuyết ở các thời đại khác nhau. Theo truyền tụng, đây vốn là một ngôi miếu nhỏ thờ thần núi thần rừng có từ thời Đường. Ngôi miếu này trở thành đình vào thời Lê và đến triều Nguyễn thì đổi thành đền. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” thì ngôi miếu này thờ Đông Quang công chúa nổi tiếng anh linh. Bà là vợ đại vương núi Sơn Vi nay thuộc Lâm Thao- Phú Thọ.
Thần tích của họ Hà giải thích tường tận, chi tiết hơn về nhân vật được phụng thờ ở đây: Đông Quang Công chúa là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ của ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuông được triều đình giao cho cai quản Đông Cuông. Ông Thiên, hậu duệ của Hà Đặc Hà Bổng (trại chủ Quy Hóa) bị hi sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên. Ông bà sinh hạ được 1 đứa con trai. Khi ông tạ thế, bà Kiểm cùng con trai ở lại Đông Cuông rồi mất tại đấy. Dân lập miếu thờ ông bên Ghềnh Ngai (hữu ngạn sông Hồng) và thờ hai mẹ con bên tả ngạn, đối diện với miếu. Người mẹ Rừng chung chung, đến đây đã được lịch sử hóa, gắn với lai lịch cụ thể của một con người trần thế.
Những người họ Hà cho rằng ông Hà Văn Thiên- người được vua cử lên quản lí vùng Đông Cuông là ông tổ của họ. Vậy thì việc thờ ông Hà Văn Thiên (tức Đức Ông) ở Ghềnh Nhai và thờ bà Lê Thị Thiết cùng con trai ở đền Đông Cuông chính là biểu hiện của tín ngưỡng thờ thành hoàng, thờ tổ tiên đã hòa nhập vào với tín ngưỡng thờ Mẫu.
Ngoài phần hậu cung đã có sự phối thờ Vua Me- Vua Báo (Vua Mẹ- Vua Con) các phần khác trong kiến trúc điện thờ của bản đền cũng có sự pha trộn rõ nét: Ngũ vị tôn ông không chỉ là năm vị quan Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ và Đệ Ngũ mà đã được đồng nhất với năm người Tày họ Hà, Hoàng, Lương, Nguyễn quê ở Đông Cuông đã nổi dậy chống Pháp năm Giáp Dần (1914) nhưng thất bại. Hai anh em Hà Bặc, Hà Chương- những anh hùng có công lớn trong cuộc chiến đấu chống quân Nguyên Mông cũng được thờ ở đây. Chính vì vậy đền Đông Cuông còn có tên là Đền Thần Vệ quốc theo sắc phong của triều đình Nguyễn. Rõ ràng, xuất xứ của bản đền là thờ nhiên thần trong đó có Mẹ Rừng nhưng theo thời gian lớp tín ngưỡng này đã có sự pha trộn, thậm chí là bị che phủ bởi các tín ngưỡng khác nhau. Huyền tích về Lâm Cung Thánh Mẫu được lịch sử hóa, địa phương hóa để thỏa mãn nhu cầu tình cảm của nhân dân.
Như vậy, nếu Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ (Lạng Sơn) là công chúa Quế Hoa, ở Suối Mỡ (Bắc Giang) là Công Chúa La Bình thì ở Đông Cuông, Mẫu Thượng ngàn là Lâm Cung Thánh Mâu vừa là bậc tôi tú anh linh, quyền cao tối thượng vừa gần gũi, bình dị trong hình hài một người vợ, người mẹ trần thế có lai lịch, gốc tích rõ ràng.
Trong niềm tin tâm linh của những con nhanh đệ tử đạo Mẫu thì đền Đông Cuông có vị trí vô cùng quan trọng, là nơi ngự chính và nơi giáng sinh của Mẫu Thượng ngàn.
Người ta cho rằng chiến công của nhiều triều đại Việt Nam có sự phù hộ của Mẫu Thượng Ngàn.
Truyền thuyết về sự sắc phong của Vua Lê Lợi: Thời đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn bị vây khốn ở Phản Ẩm. Khi tình thế nguy cấp. Mẫu Thượng Ngàn đã hóa thành ngọn đuốc lớn, soi đường quân sĩ thoát vây. Với sự che chở của Mẫu Thượng Ngàn, sau này nghĩa quân của Vua Lê Lợi ngày càng lớn mạnh. Chính vì thế, sau này vua Lê Lợi đã phong bà là Lê Mại Đại vương.
(Bài viết có tham khảo và lược trích tài liệu của ThS. Nguyễn Thị Hường)
=-==========================
==============================
==============


Tam Tòa Sơn Trang bao gồm:


Cung thờ Tam Tòa Sơn Trang tại đền Đông Sơn, huyện Cao Phong, Hòa Bình.
NAG Quỳnh Nguyễn.


Nguồn: Four Palaces – Tứ Phủ
=-=-==================
========================================================
Nhạc Tiên Thánh Mẫu hay Mẫu Thượng Ngàn hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một trong bốn vị mẫu được thờ cúng tại điện Mẫu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền bắc và miền trung Việt Nam. Việc thờ phụng Mẫu Thượng Ngàn là một đặc điểm của tín ngưỡng gắn liền với núi rừng của người Việt. Bà là một nhân vật mang tính truyền thuyết và đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng hầu bóng tam phủ hay tứ phủ.
Bà được tạc thành hình một phụ nữ đẹp, phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp và mang trang phục màu xanh khi được đặt cùng hai vị mẫu kia là Mẫu Liễu và Mẫu Thoải hoặc được thờ riêng trong một điện.
Mẫu Thượng Ngàn là người con gái đầu tiên của Ngọc Hoàng, vì tính tình thẳng thắn khó bảo nên bà được cha giao cho cai quản vùng núi rừng hoang vu, trái với Mẫu Thoải là người hay thay đổi nhưng rất nghe lời cha nên được giao cai quản vùng sông nước hiền hòa. Từ ngày Mẫu Thượng Ngàn về vùng núi cai quản thì người dân nơi đây đều được vụ mùa bội thu, đợt đi săn nào cũng bắt được thú lớn cả. Cũng vì thế dân trong vùng hết lòng tôn kính bà, những lời mà bà khuyên bảo đều được họ nhất mực nghe theo.
Sau khi Mộc Tinh bị Sơn Tinh đánh đuổi thì chạy về hướng Tây Nam, tại đây nó vẫn giở trò cũ thường xuyên bắt dân trong vùng làm lễ tế người. Thánh Mẫu bèn hóa thành một cô gái xinh đẹp để trở thành vật hiến tế hòng bắt được con quỷ này. Khi sắp bị Thánh Mẫu giết hạ, Mộc Tinh liền vội vàng xin tha mạng. Nó hứa rằng từ nay sẽ không ăn thịt người nữa và tặng bà một hạt giống thần. Nó bảo chỉ cần trồng hạt giống thần kì này xuống đất thì sẽ mọc ra tất cả loại quả ngon hoa lạ trên đời này. Vừa dứt lời Mộc Tinh liền biến mất.
Sau khi gieo trồng, Bà đem những loại quả này giao cho trưởng làng để ông có thể chia cho gia đình những người đã bị Mộc Tinh làm hại.
Thế nhưng, Mộc Tinh không hề hối cải như đã hứa, lần này nó ăn thịt Hùng Vương thứ IX – một vị vua anh minh, thương dân như con. Nó nhân cơ hội này dùng phép hóa thành nhà vua để cai trị nước Văn Lang. Mẫu Thượng Ngàn biết chuyện này có một phần là lỗi của mình nên đã tự nguyện chịu tội. Vua Trời bèn đày nàng làm con gái Mộc Tinh để sửa sai được đặt tên là Quế Hoa công chúa. Lớn lên, nàng được ông Bụt ban cho phép thuật nên đã cùng mười hai thị nữ ra sức tu tiên luyện đạo, cứu giúp dân lành.
Lúc bấy giờ đất nước Văn Lang rơi vào cảnh loạn lạc thù trong giặc ngoài do cha bà thường xuyên gây chiến với các nước làng giềng, tìm thú vui từ việc ăn thịt những kẻ chống đối mình. Công chúa Quế Hoa quyết định ra tay diệt trừ kẻ gây ra cảnh đau khổ lầm than này dù rằng người đó có là cha nàng.
Trong một buổi tiệc của nhà vua và các Lạc tướng, Quế Hoa đã xin được cùng mười hai thị nữ đánh đàn nhảy múa góp vui cho mọi người. Điều đặc biệt là chiếc đàn của nàng chỉ có duy nhất một dây khiến mọi người xung quanh đều tò mò thích thú. Khi tiếng đàn của công chúa vừa cất lên thì ai nấy đều cảm thấy thư thái, mọi âu lo đều bị quên lãng, thời gian trôi qua nhanh lúc nào không hay. Tới đêm thứ ba khi tiếng đàn vừa dứt thì Hùng Vương đã hiện nguyên hình thành một con hổ khiến mọi người hoảng loạn bỏ chạy. Mộc Tinh liền xông về phía Quế Hoa định ăn thịt nàng nhưng lần này nó đã dừng lại ngay trước mặt nàng vì dù hổ dữ cũng không thể ăn thịt con mình. Công chúa làm phép hóa dây đàn thành một sợi xích lớn buộc quanh cổ con hổ rồi dẫn nó theo mình.
Từ đó về sau Quế Hoa dạy người dân cách trồng trọt, làm nương rẫy, xây nhà, chăn nuôi và săn bắt thú dữ, còn mười hai thị nữ của bà thì trở thành các bà mụ chăm lo việc sanh đẻ của người dân để không ai phải chịu nỗi đau mất mẹ vì sanh khó giống như bà nữa. Riêng con hổ bà mang theo bên mình thì được bà dùng để trừng phạt lũ tội phạm gian ác đã làm hại dân lành. Khi nhân dân các bản mường đã có cuộc sống no ấm, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc. Từ đó về sau bà được người dân tôn thờ làm Bà Chúa Thượng Ngàn cai quản vùng rừng núi còn mười hai thị nữ trở thành Mười hai Bà Mụ cai quản việc sanh đẻ của trần gian.
Một lần khi đang đi dạo trong rừng, Mẫu Thượng Ngàn và mười hai bà mụ phát hiện thấy bên gốc cây có xác một đứa trẻ chỉ còn lại bộ xương khô. Tiếc thương vì cậu bé đã chết khi còn quá nhỏ nên Mẫu Thượng Ngàn đã dùng phép hòa lẫn xương cậu cùng gan hùm, tay gấu, ruột ngựa, mắt phượng, chân voi cùng quả tim của bà để hồi sinh cậu. Mẫu vốn không có con cái gì, lại thấy cậu bé lanh lợi nên đã quyết định nhận cậu làm con nuôi, đặt tên là Sơn Tinh, giao cai quản vùng núi Ba Vì.
Một số dị bản đề cập rằng bà mất trong cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sau khi mất thì bà trở lại Thiên Phủ sống cùng cha mình nhưng vì quá thương con nên bà đã xin cha được phép trở lại trần gian. Ngọc Hoàng đồng ý bèn cho bà được đầu thai trở lại làm người tích đủ phước đức luân hồi thì mới có thể ở bên con trai mình lần nữa.
Lần thứ hai bà giáng sinh vào cửa nhà họ Cao, một người tù trưởng trên đất Yên Bái. Sau đó nhiều lần bà hiển linh, dạy dân trồng trọt, làm ăn, lên rẫy làm nương, đi rừng, làm ruộng bậc thang nên được nhân dân suy tôn là: ‘Bạch Anh Trưởng Quản Đỉnh Thượng Cao Sơn Thần Nữ Cao Mường Sơn Triều’. Sau này bà lại linh ứng giúp vua Lê Thái Tổ nên được gia phong là ‘Lê Mại Đại Vương’.
Sau khi tích đủ phước đức thì Ngọc Hoàng đã cho phép bà trở thành con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và Mỵ Nương Ngọc Hoa trong truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh. Khi còn trẻ, Mẫu là một cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình.
Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.
Trở thành chúa tể của miền núi non và trung du, công chúa Thượng Ngàn vẫn luôn luôn chăm chỉ, hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình. Bà bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hòa hợp với nhau, dạy chúng đừng ăn những loài quả độc, nấm độc, biết tránh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ quét…
Bà dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tỉ mỉ. Những gì cha bà đã dạy, bà đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các tù trưởng, bà cũng học thêm ở họ được nhiều điều. Thế là bà lại đem những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãi.
Ngọc Hoàng Thượng đế còn ban tặng cho bà thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió, và trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ. Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm, từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của công chúa Thượng Ngàn.
Cùng với nhiều vị thần thánh khác, công chúa Thượng Ngàn vẫn ngày đêm lặng lẽ âm phù cho sự bình yên của mọi người dân nước Việt. Nhiều người gọi bà là Mẫu, một cách vừa trìu mến gần gũi mà cũng vừa tôn kính.
Người ta cho rằng các chiến công quân sự của nhiều triều đại Việt Nam đều có sự phù hộ của bà. Vì thế, các triều đại này, sau khi thắng lợi đều có lễ tạ ơn và có sắc thượng phong cho bà là công chúa.
Một truyền thuyết cho rằng hồi đầu thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản Ấm thì quân Minh kéo đến bao vây. Nghĩa quân người ít chống cự không nổi, phải tan tác mỗi người mỗi nơi. Trong đêm tối, công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hợp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí Linh. Ánh đuốc thiêng của bà, chỉ quân sĩ của Lê Lợi biết được, còn quân Minh không thể nào nhìn thấy.
Ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của công chúa Thượng Ngàn, quân đội của Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân Lê Lợi tiến vào giải phóng Nghệ An, Thuận Hóa. Sau đó, với những trận thắng oanh liệt ở Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng và cuối cùng, bao vây quân Minh ở Đông Quan để kết thúc cuộc chiến, lập lại hòa bình cho nước Việt.
Thánh Mẫu Thượng Ngàn, cũng như nhiều vị thần thánh khác, được nhiều người tôn thờ, và chính là hồn thiêng của sông núi, bao nhiêu đời nay dẫn dắt con cháu vững bước đi lên. Bà có mặt ở khắp nơi, theo bước chân của dân chúng, khi ở miền rừng núi rồi xuống miền đồng bằng. Vì vậy, ở nhiều nơi người dân lập đền thờ phụng bà.
Tuy nhiên, đại bản doanh của bà vẫn là vùng núi non và các cửa rừng. Những người đi rừng, muốn được bình yên, vạn sự tai qua nạn khỏi, thường đến cầu xin sự che chở, phù trợ của bà. Ai muốn săn bắt hay khai thác thứ gì trong rừng, cũng đặt lễ, thắp hương, cầu xin để được bà chấp thuận.
Đôi khi Mẫu Thượng Ngàn cũng được hiểu chính là người Mẹ của Đức Thánh Tản Viên, theo cách hiểu này thì Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn tại Đền Mẫu Đợi ở làng Dụ Đại xã Đông Hải huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình để tưởng nhớ công ơn của Mẫu Ma Thị Cao Sơn – người mẹ có công ơn nuôi dưỡng Đức Thánh Tản Viên.
Tuy nhiên, có ba nơi được coi là trụ xứ chính của bà, gồm:
Nhạc Phủ mà Mẫu Thượng Ngàn cai quản vốn xuất phát từ tín ngưỡng thờ Sơn Trang của đồng bào miền núi phía Bắc. Vì vậy nên còn thấy sự xuất hiện của Tam tòa Sơn Trang. Có người cho rằng Mẫu Thượng Ngàn chính là vị đứng đầu Tam tòa Sơn Trang. Cũng có người cho rằng toàn bộ Tam tòa Sơn Trang nằm dưới quyền Mẫu. Hoặc cả ba vị Tam tòa Sơn Trang đều là những hóa thân của Mẫu.