Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124

Trong văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Việt Nam, hiếm có ngôi đền nào lại thu hút đông đảo khách thập phương, đặc biệt là giới kinh doanh, làm ăn như đền Bà Chúa Kho. Cứ vào mùa lễ hội, hàng ngàn lượt khách hành hương lại đổ về đền và thực hiện nghi thức “vay vốn” cầu làm ăn. Người ta tin rằng, đầu năm vay vốn, cuối năm trả nợ Bà Chúa Kho sẽ giúp cho công việc kinh doanh thuận lợi, tiền tài tấn tới.

Bà Chúa Kho (婆主庫) là nhân vật lịch sử có đóng góp lớn trong chiến thắng Như Nguyệt và gắn liền với sự kiện Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1076. Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Bà Chúa Kho là người có nhan sắc tuyệt trần, thông minh, tài giỏi, đa trí, đa tài, cầm kỳ thi họa đều giỏi.
Bà lọt vào mắt xanh của vua Lý và trở thành vợ của vua. Tương truyền, Vào thời nhà Lý, bà có công lớn trong việc giúp triều đình trông coi lương thực tại Núi Kho (Bắc Ninh), cung cấp quân lương chống giặc. Sau này, khi trở thành Hoàng Hậu dưới triều nhà Lý, bà thấy đất đai quê mình rất rộng mà không ai khai hoang, sản xuất, bị hoang hóa nên bà đã xin nhà vua được trở về làng để chiêu dân lập ấp xây dựng làng xóm vùng Đàng Ngoài, khai khẩn ruộng hoang đất đai nông nghiệp ở vùng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng Đồng, vùng Hoan Châu – Nghệ An, giúp người dân có đất canh tác, trồng cấy; không những vậy, bà còn giúp nhà vua trong việc kinh bang đất nước, giữ gìn kho lương.
Thời Lý-Trần, từ năm 1030, vào đầu thời kỳ này (đầu thời nhà Lý), đất Hà Tĩnh (phía Bắc đèo Ngang) vẫn là vùng đất biên cương của Đại Việt với Chiêm Thành. Ngày 12 tháng Giêng, năm Đinh Tỵ, quân Tống kéo quân sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống Tống diễn ra rất gay go, ác liệt. Vua Lý Thường Kiệt đã lựa chọn làng Cổ Mễ, Cầu Gạo, núi Kho là căn cứ để đặt kho tích trữ lương thực, phục vụ cho cuộc kháng chiến của quân Lý ở bờ nam chiến tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu). Núi Kho, núi Dinh, Thị Cầu cũng vốn là một vị trí chiến lược có thể kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long xưa.
Nhận biết được tầm quan trọng của vị trí chiến lược này, Bà Chúa Kho đã tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực và trông nom kho tàng quốc gia phục vụ cho cuộc chiến tại sông Như Nguyệt. Tương truyền, bà còn cho người đào đường hầm tại ngọn núi Kho, cửa hầm nằm ở phía sông Như Nguyệt rất khó phát hiện. Đường hầm có kết cấu hình mái vòm, chỗ cao nhất của đường hầm lên đến 2m. Đây được coi là bến cảng tập kết, điều chuyển binh lực, vật lực đi các nơi và cũng là điểm quân sự lợi hại.
Một hôm nọ, trong lúc đang phát lương cứu đỗi dân làng, bà không may bị địch sát hại. Cảm kích trước tấm lòng của bà, vua Trần đã phong bà làm Phúc thần phường Võ Trại, cho dân xây dựng đền thờ cúng tại vị trí kho lương thực cũ, gọi với danh xưng là Bà Chúa Kho.
Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhớ ơn công lao của Bà, nhân dân Minh Lương của nước Đại Việt tại Cổ Mễ lập đền thờ ngay tại vị trí kho lương cũ của triều đình (sau chùa trước kia, trên Núi Kho). Bà đã hết lòng chăm lo cho dân ấm no, trông coi các “lẫm thóc, lẫm tiền” của Nhà nước. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là “Chủ khố linh từ” (Đền thiêng thờ Bà Chúa Kho). Niên giám 1009-1225 đây là ngôi Miếu Thờ vọng bà chúa Kho duy nhất của dãy đất Miền Trung nguyên mẫu sau Cổ Mễ Bắc Ninh. Nhân dân gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho.
Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cổ Mễ có từ đời Lý thế kỷ XI. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu.

Cũng giống như ở Bắc Ninh gồm có Đình-Chùa-Đền có cả chùa Tiên và Đình làng. Chùa Tiên Sơn là ngôi chùa cổ có từ thời nhà Lý và Đền thờ Bà Chúa Kho là nơi tưởng niệm Bà cũng có từ thời này. Sau này do chiến tranh và phong trào bài trừ tín ngưỡng dân gian nên ngôi chùa đã bị phá đổ nát, miếu Bà Chúa cũng theo đó xuống cấp. Mãi tới gần cuối thế kỷ XVIII, dân làng ở đây đã trùng tu lại nhỏ gọn bên cánh tả của chùa Tiên Sơn (phía Sau chùa Tiên Sơn là kho quân lương dành cho quân binh sĩ và tích trữ cứu đói cả vùng Phủ Đức Quang, Thiên Lộc, La Sơn).
Trong Đạo Mẫu Việt Nam có ghi: “Bà có tên tuổi (Lý An Quốc, Trần Thị Ngọc …?); có nguồn gốc xuất thân (em gái thứ 6 của vua Lý Thánh Tông, vợ vua Lý, con vua Bà, tức Hà Giang công chúa được sai xuống trông coi Cổ Mễ, con gia đình làm nghề gốm, quê ở Quả Cảm, nhà nghèo), có công tích (chiêu dân lập ấp, khấn ruộng, giữ kho lúa cho triều đình trong cuộc kháng chiến chống Tống trên sông Như Nguyệt …?)”.(1)
Những truyền thuyết về Bà Chúa Kho cũng ít nhiều liên quan tới tục thờ Mẹ Lúa nguyên thuỷ. Theo các cụ kể lại, Bà Chúa Kho là thông nữ xinh đẹp, có tài, sinh sống ở vùng ven sông Cầu.
“Ban đầu, vùng đất này là vùng bãi ngập nước, lầy trũng, cư dân chưa biết trồng cấy gì, Cô thôn nữ ấy rắc trấu tới đâu thì lúa mọc tới đó. Từ đó lúa thóc cứ ùn ùn như núi, mọi người phải xây kho để trữ lương thực và tôn vinh cô gái dạy dân trồng lúa ấy là Bà Chúa Kho, Bà Lẫm.”(2)
Về phương diện tâm linh, Bà Chúa Kho vốn là vị thần có phần khiêm nhường trong lớp áo của một “nhân vật lịch sử”, “Thần Mẫu“, song từ sau thập kỷ 80, nhất là đầu thập kỷ 90, hiện tượng thờ cúng Bà Chúa Kho bỗng nổi lên như một của tín ngưỡng dân gian nước ta sau thời kỳ đổi mới. Từ đó, hình tượng Bà Chúa Kho trở thành người ban phát tài lộc theo kiểu “vay trả” để đầu năm vay “tiền” Bà về làm ăn hay xin “lộc rơi”, “lộc vãi” và cuối năm lễ tạ, “trả” tiền vay của Bà.
Ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1077), chúa bà bị giặc giết trong khi đang phát lương thực cứu giúp dân làng. Nên người ta lấy ngày này làm ngày giỗ của Bà Chúa Kho linh thiêng.
Ngày khánh tiệc của Bà Chúa Kho được tổ chức thường niên vào ngày 20 tháng 7 âm lịch.

Nghi thức “vay vốn” đã tồn tại và duy trì từ lâu tại đền Bà Chúa Kho. Người ta quan niệm rằng, muốn làm ăn phát đạt, thuận buồm xuôi gió, có tiền có của thì đến xin lộc và vay vốn Bà Chúa Kho. Cầu chúa bà phù hộ cho một năm làm ăn thuận lợi. Và tất nhiên, khi đã có vay thì phải có trả. Bạn chỉ cần nhớ rõ trong sớ dâng lên chúa bà là vay bao nhiêu, để làm gì, cùng với đó là thời gian hứa trả (tạ lễ). Có thể là một năm, hai năm hoặc năm năm. Quan trọng là bạn phải làm đúng theo những gì đã hứa dù có làm ăn được hay không.
Nghi thức “vay vốn” diễn ra tại đền Bà Chúa Kho xuất phát chủ yếu từ sự tích Bà Chúa Kho và quan niệm của khách hành hương xin lộc chúa bà.
Theo lưu truyền thì bà là thủ kho vô cùng tài giỏi và sắc sảo. Có thể nói bà là người nắm giữ “nguồn sống” của mọi người. Người ta muốn đến trước cửa chúa bà để xin tài lộc, của cải. Nhưng rõ ràng của cải là thứ mình làm ra chứ không thể đi xin. Do đó, thay vì xin lộc bà, người ta đến “vay” vốn làm ăn đầu năm. Vay bao nhiêu, trả bấy nhiêu. Nhưng cũng có người thành tâm, vay 1 trả 3 hoặc vay 1 trả 10. Từ đó, theo quan niệm này, cứ đến dịp đầu năm người ta lại đến đền Bà Chúa Kho “vay” vàng bạc, tiền tài từ chúa bà để về làm ăn cho thuận lợi, tươi tốt.

Sắm lễ Bà Chúa Kho về cơ bản cũng giống với những vị thần thánh Tứ Phủ khác. Một mâm lễ bao gồm một đĩa hoa, một đĩa quả gồm nhiều loại quả, trầu cau, thẻ hương và cánh sớ. Tuy nhiên, có 3 điểm khác biệt khi bạn thực hiện nghi thức “vay vốn” tại đền.
Đầu tiên, đó là bạn phải viết sớ khai tên tuổi, nguyện vọng muốn vay chúa bà bao nhiêu, mục đích gì và thời gian trả nợ.
Thứ hai, bạn phải sắm vàng mã tùy tâm, thường là vàng thỏi. Bạn muốn vay vốn chúa càng nhiều thì sắm càng nhiều vàng mã. Việc sắm vàng mã không nên mua tại đền mà nên sắm ở nhà. Bởi bạn dễ bị chặt chém, hét giá lên gấp 2, 3 lần khi mua chúng tại đền.
Thứ ba, bạn nên dâng tiến một khoanh oản đường đẹp lên ban thờ chúa bà. Lễ càng to thì oản sắm lễ càng phải đẹp và cầu kỳ.



Trước khi đi lễ đền Bà Chúa Kho, bạn nên thắp hương báo cáo gia tiên tại gia trước. Sau đó, khi đến cửa đền, hãy khấn bát hương công đồng được đặt giữa sân. Khấn vái các quan chứng giáng và tiếp độ cho gia tiên được vào đền lễ thánh.
Tiến bước vào trong đền, bạn đặt mâm lễ dâng tiến vào cung chính giữa hoặc cung trong. Thông thường, nếu đi vào những dịp lễ hội, đền có rất đông khách hành hương vào lễ, nên bạn khó có thể đặt mâm cúng vào đúng cung chính. Thay vào đó, bạn có thể đặt mâm lễ này vào bất cứ ban thờ nào thuộc gian giữa và đọc bài văn khấn Bà Chúa Kho thì chúa bà vẫn chứng cho lòng thành của bạn.
Sau khi đọc văn khấn xong, bạn có thể tản mát trong đền và chờ thời gian cháy hết một nén hương rồi hạ lễ. Thời gian này chỉ có thể ước chừng vì hiện nay trong các đền, chùa người ta không còn cho khách hành hương thắp hương nữa. Khi hạ lễ, hoa quả, bánh kẹo có thể mang về, còn giấy sớ thì đem đi hóa tại lò hóa sớ của đền.
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
Con xin kính lạy Tam giới Thiên chúa cập nhất thiết Thánh chúng.
Con xin kính lạy Tam phủ công đồng. Tứ phủ vạn linh
Con xin kính lạy Thiên tiên Thánh mẫu, Địa thiên Thánh mẫu, Thủy tiên thánh mẫu.
Con xin kính lạy Đức Chúa Kho Thánh mẫu hiển hóa anh linh.
Con xin kính lạy Đương niên hành khiển chí đức Tôn thần,
Con xin kính lạy Đương cảnh Thành Hoàng Bản Thổ đại vương.
Con xin kính lạy Ngũ hổ thần tướng, Thanh bạch xà Thần linh
Hương tử (chúng) con là ….
Ngụ tại …..
Hôm nay là ….
Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, xin cho con được làm ra tiền của, có ngân có xuyến, ăn nên làm ra.
Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Chúa Kho Thánh mẫu, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)
Có vay thì phải có trả. Đó là lệ phải làm khi thực hiện nghi lễ “vay vốn” đền Bà Chúa Kho. Kể cả bạn có làm ăn được hay không thì theo lời hứa bạn vẫn phải tạ lễ chúa bà đúng kỳ hạn.
Với lễ tạ Bà Chúa Kho hay “trả nợ” Bà Chúa Kho bạn cũng sắm lễ như lúc đi “vay vốn”. Lễ thành gồm một đĩa hoa, một đĩa quả, trầu cau, thẻ hương cùng với đó là thỏi vàng mã trả nợ, sớ tạ lễ và quanh oản tài lộc thành tâm dâng tiến.
Khi làm lễ “trả nợ” bạn cũng sử dụng bài văn khấn gần giống như lễ “vay vốn” chỉ có điều thay vì xin lộc chúa bà thì là khấn lễ tạ trả nợ chúa bà.
Khoảng thời gian dâng lễ Bà Chúa Kho tốt nhất trong năm là vào các ngày thuộc tháng Giêng âm lịch. Lễ hội đền Bà Chúa Kho diễn ra từ ngày 12 đến 15 tháng Giêng, trong đó chính hội là 12, ngày giỗ Bà Chúa Kho. Tuy nhiên, thường những ngày này khách hành hương về đền chật kín cả sân, vô cùng đông đúc nên bạn có thể chọn những ngày trước và sau đó.
Đối với ngày đi lễ tạ, trả nợ Bà Chúa Kho, bạn có thể đi vào các ngày thuộc tháng 11, tháng 12. Bởi theo thông lệ, cuối năm luôn là tháng lễ tạ, kết thúc một năm làm ăn.
Đền Bà Chúa Kho hiện nay nằm tại lưng chừng ngọn núi Kho, Cổ Mễ, Vũ Ninh, Bắc Ninh. Đền thờ chúa bà được nhân dân lập từ thời Lý. Ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ đơn sơ, kiến trúc đơn giản và mộc mạc.
Đến thời Lê, đền được trùng tu và mở rộng hơn với nhiều công trình trong tổng thể kiến trúc. Bao gồm công Tam quan, hoa viên, tòa tiền tế, cung đệ nhị, cung chính. Trong đó, cung chính là nơi tôn nghiêm, thờ tự tượng chúa Bà.
Đến năm 1989, đền được Nhà nước xếp hạng di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia và được nhân dân tỉnh Bắc Ninh trùng tu tôn tạo, mở rộng nhiều hạng mục công trình hơn như Cổng Tam Môn, Tiền tế, cung Đệ Tam, cung Đệ Nhị và cung Thượng (nơi thờ Bà Chúa Kho); ngoài ra còn có toàn Sơn Trang, Lầu Cậu, Lầu Cô, … Các công trình được tôn tạo và bổ sung trên tiêu chí tôn trọng những nét kiến trúc cũ và truyền thống. Nên sau khi hoàn thành, kiến trúc đền Bà Chúa Kho vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ đặc trưng cùng vẻ trang trọng, uy nghiêm.
Đối với những câu chuyện ly kỳ xảy ra ở đền Bà Chúa Kho thì nổi tiếng nhất là câu chuyện xảy ra vào năm 1967. Năm ấy, giặc Mỹ bắn phá miền Bắc hòng chiếm đóng Việt Nam. Cổ Mễ, Bắc Ninh cũng là một trong những tỉnh trọng điểm bị bom địch tàn phá dữ dội. Khắp nơi rải rác những mảnh bom lớn. Nhưng điều kỳ lạ là dù địch cho bom cày xới tan nát núi Kho đến như thế nào thì vẫn không hề có một quả bom nào rơi vào đền. Thậm chí cầu Đáp Cầu và Cầu Phao chỉ cách đền vài trăm mét, ngày đêm bị dội bom nhưng tuyệt nhiên, đền Bà Chúa Kho vẫn không bị ảnh hưởng. Do đó, mà người ta càng tin rằng đền Bà Chúa Kho là một ngôi đền cực kỳ linh thiêng.
Đền Bà Chúa Kho tọa lạc tại núi Kho, cạnh dòng sông Cầu, khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Đền nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 45km chếch về hướng Đông Bắc.
Để di chuyển đến đền Bà Chúa Kho, quý khách có thể đi bằng phương tiện cá nhân như ô tô, xe máy hoặc phương tiện công cộng như xe buýt.
Nếu ở nội thành Hà Nội, bạn phải bắt xe đến bến xe Long Biên. Từ bến xe Long Biên, bạn đón chuyến buýt số 54 đi thẳng tới thành phố Bắc Ninh. Từ đây, bạn có thể thuê xe ôm để đi vào đền. Đền cách điểm dừng xe buýt tại thành phố Bắc Ninh khoảng 3 km. Tổng thời gian di chuyển bằng phương tiện công cộng đi đến đền khoảng 2 tiếng rưỡi.
Nếu di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô, bạn sẽ chỉ mất khoảng 1 giờ 8 phút cho quãng đường khoảng 35 km để đến đền Bà Chúa Kho. Có 2 lộ trình đi từ Hà Nội đến đền:


Ai lên tới Bắc Ninh nhớ lại
Hỏi thăm đền Chúa ngự nơi nao
Hỏi thăm Cổ Mễ đi vào
“Linh từ Chủ Khố” anh hòa chung linh
Dẫn sự tích Nữ trung anh kiệt
Kho quân lương Như Nguyệt trông coi
Thiên tinh ngân khố nhà trời,
Năm mây ngũ sắc muôn nơi tụ vào
Đất Bắc Ninh anh hào giáng thế
Tự thuở xưa Cổ Mễ còn ghi
So bề đức hạnh dung nghi
Hằng Nga kém sắc Tây thi kém tài
Vùng Quả Cảm đất đai hoang hóa
Bà chiêu dân khai phá dựng làng
Bốn phương nam bắc vẹn toàn
Dân an quốc thái lại càng tốt tươi
Dẫu bể cạn ơn người vẫn tỏ
Sắc tặng phong thượng cổ phúc thần
Ơn bà giáo hóa độ dân
Vũ Ninh, Kinh Bắc khắp vùng đội ơn
Dân thiết lập đền thờ Chủ Khố
Bà Chúa Kho tích sử lưu truyền
Quản cai lẫm thóc lẫm tiền
Nghe lệnh chúa truyền phát chấn mở kho
Đức anh linh thiên thu vạn cổ
Ai lòng thành gia hộ độ cho
Cầu sao được vậy ấm no
Buôn may bán tốt độ cho an lành
Tấm lòng thành tùy tâm sở nguyện
Giảng phúc lành ứng hiện hà sa
Một nguyện phúc lộc đề đa
Trừ tai hạn ách tống ra hải ngoài
Thứ hai nguyện đinh tài hậu phát
Kêu đồng gia kinh ngạc tranh vanh
Ba Nguyện phú quý khang ninh
Lưu ân giáng phúc môn đình thiên xuân.
Hương một triện kính thành đôi chữ
Trước điện tiền điện tử quỳ tâu
Tâm hương thành kính quy đầu
Tiến dâng một bản văn chầu thánh linh
Đất Thăng Long giáng sinh thần nữ
Thượng đẳng thần Chủ Khố đại vương
Quế lan thoang thoảng đưa hương
Vầng dương sáng tỏ bốn phương thái hòa
Ất Mùi niên, tiên nga giáng thế
Ngày mười hai cát nhật, tháng hai
Dung nghi diện mạo toàn tài
Khắp miền Võ Trại nào ai sánh bì
Đức Chúa Bà sinh chi Lý thị
Dòng trâm anh dấu khí thiên hương
Nữ tài đẹp tốt ai đương
Da ngà vẻ ngọc phi phương nào tày
Tóc tựa mây lông mày lá liễu
Cổ hạc cao yểu điệu lưng ong
Sớm khuya cưỡi ngựa bắn cung
Đêm ngày tập luyện tinh thông kỳ tài
Nghĩa trăm năm duyên hài gia thất
Trần tướng quân thủ chấn Hoan Châu
Phu thê ân nghĩa làm đầu
Hảo hòa cầm sắt ngọc châu xướng tùy
Trái mấy kỳ bao cơn binh biến
Giặc Nguyên Mông xâm chiến cõi Nam
Chúa Bà y áo cải trang
Phu thê đồng sức dẹp an nước nhà
Đức Chúa Bà Quản trưởng Quốc khố
Trần tướng quân binh bộ cầm tay
Quyết lòng báo đáp ơn dày
Trung quân ái quốc nào hay mệnh trời
Ai hay lẽ sao dời vận đổi
Chốn binh trường bao nỗi đau thương
Từ nay hai ngả âm dương
Phu Quân tử trận lên đường mây xanh
Nhớ bóng nguyệt trăng thanh giãi tỏ
Đấng trung thần thiên cổ còn ghi
Khăn hồng tử tiết một khi
Đôi mươi tháng bảy hạc trì hồi loan
Gia sắc chi bảng vàng phong tặng
Bốn chữ đề “Trần Lý phương danh”
Chúa Bà hiển ứng anh linh
Khố Nương Công Chúa Phu nhân trị vì
Phường Võ Trại, Phụng Thiên: Giảng Võ
Lập linh từ Quốc Khố phu nhân
Từ phương phụng sự tinh thần
Hương hoa phụng hiến tiếng dâng muôn đời
Nay đệ tử văn mời giáng hạ
Thỉnh Chúa Bà loan giá giáng lâm.
Chữ rằng thánh giáng lưu ân
Khuông phù đệ tử thiên xuân thọ trường.