5c5075cd-b2ea-42a6-8cb5-9f6da5d5c7b8

Tứ Vị Vua Bà (Tứ Vị Thánh Nương, Quốc mẫu Vương Bà Tứ Vị Thượng Đẳng Thần, Đại Càn Tứ Vị Thánh Mẫu, Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương, Đại Càn Thánh Nương Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương Thượng Đẳng Thần, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tam Tòa Tú Vị Hồng Thánh Nương Đại Nương, Nam Việt Tống Triều Quốc Mẫu Tứ Vị Hồng Nương Càn Hải Linh Từ, Tứ Thánh Miếu, Đại Càn quốc gia Nam Hải Thánh mẫu Thượng Đẳng Thần, Nam Việt Tống triều quốc mẫu tứ vị hồng nương phu nhân, Đại càn quốc gia Nam Hải thần chiếu linh ứng tự vị thánh nương Thượng đẳng thần, Càn Hải môn hiển thánh Tống Thái Hậu Nam Hải tối linh Tứ vị Thánh nương Đại Vương) và đền Cờn Môn – Nghệ An, đền Lộ Hà Nội

Tên gọi: Văn bản ghi “Thái hậu Dương Quý Phi”, “Thái hậu Dương”, “Dương Quý Phi”, “Dương Thái Hậu”
Dẫn: Trong sử liệu và truyền thuyết, vị thần được thờ là Dương Thái hậu (vợ vua Tống Độ Tông, mẹ vua Tống Đế Bính), không phải “Dương Quý Phi” (nhân vật nổi tiếng thời Đường). Việc gọi nhầm sang “Dương Quý Phi” là lỗi sai phổ biến nhưng thiếu chính xác về mặt lịch sử.
Số lượng: Tứ vị bao gồm: Thái hậu, hai công chúa và nhũ mẫu (người vú nuôi), chứ không phải “ba người con”.

Địa danh: “Cửa Cần Hải” thường được gọi chệch là “Cửa Cờn”, trước là Càn (chữ Hán là 乾, nghĩa là trời), tránh tên húy đổi là Cần. Văn bản có lúc ghi “Cờn Môn”, có lúc ghi “Cần Hải”.

Văn bản có ghi “Tống Đế Bình” và “Tống Đế Bính” thì “Tống Đế Bính” mới chính xác.

Với người dân vùng ven biển như vùng duyên hải miền trung thì tục thờ Tứ Vị Thánh Nương hay còn gọi là Tứ Vị Vua Bà vô cùng phổ biến. Người ta tin rằng bà có quyền phép sẽ phù hộ cho mưa gió thuận hòa, nhân dân làm ăn thuận lợi, có tiền có của, bình yên, êm ấm.

image

Tứ vị vua bà là ai?

Tứ Vị Vua Bà là vị Mẫu Thần được phối thờ cùng hệ thống thần điện Tứ Phủ. Mọi truyền thuyết đều cho rằng bà có quyền phép chuyên phụ trách miền sông nước, biển đảo. Do đó, đền thờ bà được xây dựng phổ biến khắp vùng duyên hải nước ta.

Tứ Vị Thánh Nương là Thái hậu Dương Quý Phi và hai cô công chúa con của Thái Hậu và bà nhũ mẫu (người vú nuôi) nuôi hai cô công chúa. Tứ Vị Thánh Nương là người nhà Tống Trung Quốc. Thái hậu Dương Quý Phi được thờ chính tại đền Cờn (Nghệ An) và đền Mẫu (Hưng Yên). Bà có công phù hộ cho các triều vua đánh giặc nên được phong là Mẫu.

Tôn hiệu bà được ghi chép lại rất đa dạng. Thường thấy trong các thần tích là Đại Càn Tứ Vị Thánh Mẫu (Ninh Bình), hay Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương (Hà Nội), Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tam Tòa Tú Vị Hồng Thánh Nương Đại Nương (Nam Định), Nam Việt Tống Triều Quốc Mẫu Tứ Vị Hồng Nương Càn Hải Linh Từ (Hà Nam), Tứ Thánh Miếu sự tích (Bắc Ninh). 

Tại các đền thờ Tứ Vị Vua Bà cũng còn lưu giữ một số sắc phong với các duệ hiệu:

  • Đại Càn quốc gia Nam Hải Thánh mẫu Thượng Đẳng Thần
  • Nam Việt Tống triều quốc mẫu tứ vị hồng nương phu nhân
  • Đại càn quốc gia Nam Hải thần chiếu linh ứng tự vị thánh nương Thượng đẳng thần
  • Càn Hải môn hiển thánh Tống Thái Hậu Nam Hải tối linh Tứ vị Thánh nương Đại Vương.

Sự tích Tứ Vị Vua Bà

Nhân vật trung tâm trong tứ vị thánh nương liên quan tới một nhân vật lịch sử nổi tiếng dưới thời Nam Tống ở Trung Quốc. Sử liệu Trung Quốc, tác giả Long Bằng (người Trung Quốc) đã ghi lại giai đoạn lịch sử bi tráng liên quan đến Dương Thái Hậu như sau: 

Năm 1276, kinh đô Lâm An của nhà Nam Tống rơi vào tay quân đội Mông Cổ, vua nhà Tống là Tống Cung Tông cũng bị bắt làm tù binh. Dương Thục phi (phi tử của Tống Độ Tông) đưa hai hoàng tử bé là Triệu Thị, Triệu Bính chạy về phía Nam qua đường biển, cùng những văn thần, võ tướng tiếp tục bất khuất chống Nguyên… 

Dương Thái hậu biết tin Đế Bính đã chết, bèn khóc than rằng: “Ta từ ngàn dặm xa xôi đến đây, cũng là vì cốt nhục của nhà Triệu, hôm nay chết rồi, ta còn sống được nữa ư?”. Nói rồi cũng nhảy xuống biển tự tử. Hôm sau trên biển nổi lên hơn 100 nghìn thi thể. Nhà Nam Tống bị diệt vong.”1

(Trích trong cuốn “Đạo mẫu Việt Nam”)

Năm 1276 quân Nguyên Mông ồ ạt tấn công Nam tống khiến hàng vạn quân Tống bị đánh tan. Tháng 1/1279, quân Nguyên tấn công căn cứ cuối cùng của quân Nam Tống . Trong lúc nguy khốn , Thái hậu và các công chúa nhà Tống xuống thuyền chạy về phía Quảng Đông nhưng gặp gió mạnh thuyền bị đắm , mọi người đều chết. Lúc đó , bỗng xuất hiện Rồng vàng tới hộ giá mẫu hậu và ba vị công chúa trôi dạt tới biển Cờn Hải và được vị sư già chùa Quy Sơn (chùa Đót Tiên ở một số bản kể) cứu sống và trú ngụ tại đó. Sau một thời gian trong chùa bống có nhiều điều dị nghị về vị sư già với Tống Hậu. Vị sư gia này không biện bạch được bèn khấn Phật và nhảy xuống biển tự vẫn. Mẫu hậu và ba vị công chúa thấy vị sư già vì mình mà chịu oan khuất cũng liều mình nhảy xuống biển chết theo, xác của họ dạt vào cửa Cờn Hải. Họ hiển linh và được dân làng lập đền thờ và phong là “Nam Hải Phúc Thần” cai quản 12 cửa biển. Từ đó phàm những người đi biển đều đến cầu đảo Tứ vị Thánh Nương.

Sau này, vua Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông đi chinh phạt giặc Chiêm và ở phương nam theo đường biển được Tứ Vị Thánh Nương hiển linh và trợ giúp. Sau khi thắng trận trở về, các vua Đại Việt đều lễ tạ ơn phong thần “Quốc mẫu Vương Bà Tứ Vị Thượng Đẳng Thần” và “Đại Càn Thánh Nương Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương Thượng Đẳng Thần“. Sự kiện này được sách “Việt Điện u linh” có Lý Tế Xuyên chép .

Đại Việt sử ký toàn thư chép về sự kiện này như sau: “(Hưng Long) năm thứ 19 (1311)… Mùa đông, tháng 12, vua thân đi đánh Chiêm Thành, vì chúa nước ấy là Chế Chí phản trắc… (Hưng Long) năm thứ 20 (1312)… Mùa hạ, tháng 5, dụ bắt được chúa Chiêm Thành Chế Chí đem về… Tháng 6, vua từ Chiêm Thành về (đến kinh đô)… Lập đền thờ thần ở cửa biển Cần Hải. Trước đây, vua đi đánh Chiêm Thành, đến cửa biển Cần Hải (trước là Càn, tránh tên húy đổi là Cần), đóng quân lại, đêm nằm mơ thấy một thần nữ khóc lóc nói với vua: “Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, gặp phải sóng gió, trôi giạt đến đây. Thượng đế phong thiếp làm thần biển đã lâu. Nay bệ hạ mang quân đi, thiếp xin giúp đỡ lập công”. Tỉnh dậy, vua cho gọi các bô lão tới hỏi sự thực, cho tế, rồi lên đường. Biển vì thế không nổi sóng. (Quân vua) tiến thẳng tới thành Đồ Bàn, bắt được (chúa Chiêm) đem về. Đến nay, sai hữu ty lập đền, bốn mùa cúng tế”.

Trong xã hội phong kiến khi con người vẫn còn bị chi phối mạnh bởi đức tin ở lực lượng siêu nhiên (thánh, thần, phật, mẫu…) thì việc hành lễ ở đền thờ tứ vị thánh nương là thường tình và là một biện pháp chính trị khôn ngoan. Qua câu chuyện về giấc mơ của nhà vua, nhà vua muốn truyền thông điệp đến các tướng lĩnh, quân binh rằng chuyến chinh phạt này không những được bách thần trong nước phù trợ mà còn được cả các vị thần đế vương, hoàng thái hậu ngoài nước trợ giúp, tất sẽ giành chiến thắng. Điều ấy có giá trị như một sức mạnh tinh thần cổ vũ tướng sĩ dấn thân vào trận. Kết cục, cuộc chinh phạt đã đạt được mục tiêu nhà vua đặt ra. Và việc xét thưởng công trạng, trong đó có cả ân thưởng những vị thần phù trợ cho cuộc chiến thành công, cũng là một biện pháp khôn ngoan của vua chúa dưới thời phong kiến quan tâm quản lý cả các vị thần mà thực chất qua đó nhằm tăng uy quyền nhà vua và lấy lòng tin ở dân chúng. Đền thờ tứ vị thánh nương được nhà nước phong kiến trung ương ban tặng sắc phong ghi nhận công trạng “Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương”, cấp tiền bạc sửa sang, xây dựng khang trang, nhờ đó mà danh tính của vị thần thờ trở nên linh thiêng trong tâm thức của người dân.

Một chi tiết rất đáng quan tâm là trong giấc mơ của nhà vua, Dương Thái Hậu nhà Nam Tống cho vua biết rằng: “Thượng đế phong thiếp làm thần biển đã lâu”. Trong tín ngưỡng của người đi biển, cá voi còn gọi là Ngư Ông là vị ân nhân, vật cứu hộ, phúc thần của dân đi biển. Đền Cờn/Càn thực chất thuở xa xưa, thoạt kỳ thủy là nơi thờ cá, nhất là cá voi, một tín ngưỡng thờ cá của cư dân sông nước, cư dân biển, sau có sự phối thờ các vị nhân thần và các nhân thần ấy đã dần giữ vị trí trung tâm làm mờ đi lớp tín ngưỡng thuở ban đầu. Sau này ở thời đại phong kiến một số nhân thần được tấn phong là vị thần phù trợ cho người đi biển như Nguyễn Phục, Đỗ Hoàng Giáp niên hiệu Thái Hòa 2 (1453) thời Lê Nhân Tông, giữ chức Tham chính sứ xứ Thanh Hóa. Khi vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông được giao việc đốc vận quân lương, vì gặp bão, chậm trễ kỳ hạn nên bị xử tội theo quân pháp. Biết ông chết oan, dân chúng dọc bờ biển từ Thanh Hóa đến Quảng Nam nhiều nơi lập đền thờ. Sau đó, triều đình phong kiến phong Nguyễn Phục là Nam Hải đại vương, vị phúc thần của dân đi biển. Ở Trung Quốc có một vị thần phù trợ cho người đi biển là Lâm Mặc, tức Ma Tổ, sau này là Thiên Hậu. Ma Tổ: “Đó chính là một vị thần hàng hải được thờ ở rất nhiều nơi trên lãnh thổ Trung Quốc và những nơi có người Hoa sinh sống trên thế giới. Bà được các triều đại từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh công nhận và phong cho nhiều tước. Sự tích của bà được nhiều sách Trung Quốc bàn tới: bà xuất thân từ một nhân vật có thật năm 960, dưới triều Bắc Tống, tại Phúc Kiến, bà được tin là người có khả năng siêu nhiên bởi việc đã cứu các anh trai đang đi buôn bán trên biển bị gặp sóng dữ. Bà chết trẻ, tương truyền được trời đón về, sau nhờ việc bà hiển linh cứu vị quan đời Tống (1123) mà bà được phong là phu nhân. Sau đó, bà còn hiển linh bắt cướp biển (1192) nên được phong là Thánh phi đời Tống. Đời Minh bà được biết đến dưới cái tên là Thiên phi và đến đời Thanh là Thiên hậu”(4).

Những người sống ở vùng biển Việt Nam hơn ai hết trong quá trình giao lưu với ngư dân Trung Quốc đều biết Thiên Hậu là vị thần phù trợ cho người đi biển nhưng họ lại không du nhập vị thần này vào thành vị phúc thần phù trợ cho người đi biển Việt Nam. Ở Trung Quốc, theo tác giả Long Bằng, phải đến năm Thánh Hóa thứ 5 nhà Minh (1469), triều Minh mới công khai cho xây dựng đền, miếu tưởng niệm các nhân vật nhà Nam Tống tại di tích Tống cung Nhai Sơn. Năm Hồng Trị thứ 4 nhà Minh (1491) xây miếu Tử Nguyên, còn gọi là miếu Toàn Tiết, người dân gọi là điện Quốc Mẫu để thờ Dương Thái Hậu ghi nhận danh tính, chức phận và đức hạnh giữ trọn phẩm tiết của Hoàng Thái Hậu nhà Nam Tống và người Trung Quốc từ đó đến nay không quan niệm bà là vị thần biển.

Tứ Vị Thánh Nương được người đời truyền tụng rất nhiều sự tích. Phổ biến nhất, người ta cho rằng danh xưng này để chỉ 4 vị thánh nữ có nguồn gốc từ Trung Quốc, được thờ nhiều ở vùng Thanh Hóa Nghệ An. Tại những địa phương có xây đền thờ các vị này đều cho rằng nhân vật chính là thân mẫu vị vua cuối cùng đời nhà Tống. Ba người còn lại được kể lại bằng những sự tích không thống nhất lắm.

Xem thêm: Sự tích Ông Chín Cờn Môn có liên quan đến Tứ Vị Vua Bà hay không? Đền thờ thánh ông có phải đền Cờn Môn?

5c5075cd-b2ea-42a6-8cb5-9f6da5d5c7b8

Các sự tích này được lưu truyền và ghi chép tại các đền thờ Tứ Vị Vua Bà. Cụ thể:

Truyền thuyết ở đền mẫu – Hưng Yên

Truyền thuyết kể rằng, sau khi Nam Tống thất thủ, bà quý phi họ Dương đã nhảy xuống biển. Thi thể của bà xuôi theo dòng nước trôi về Phố Hiến. Nhân dân thương xót nên chôn cất chu đáo thi thể của bà. Rồi đến người nội thị triều đình Bắc quốc là quan thái giám họ Di trong cơn loạn lạc đã tới Phố Hiến, được nhân dân giúp đỡ. Tập hợp những người Hoa lánh nạn rồi hưng công lập nên làng Hoa Dương. Sau khi vị thái giám này mất, họ tôn người này làm Thành Hoàng và chôn cất kín đáo trong khuôn viên đình Hiến. Tại đền, cũng có đặt tượng thờ Dương phi cùng 2 người hầu là Kim Thị và Liễu Thị.

Truyền thuyết Tứ Vị Vua Bà theo bản ghi chép tay chữ Hán Nôm cuốn “Thanh Chương huyện chí”

Trong sách có ghi về một sự việc khi hoàng hậu một triều vua bị vu oan là con đẻ “bất thành nhân dạng”. Nên bốn mẹ con tức hoàng hậu, 2 cô công chúa cùng vị hoàng tử (Đế Bính) bị đày lên đảo. Tuy nhiên, thuyền dạt vào đền cửa Cờn nhưng 4 mẹ con đã bị chết ở đó. Thượng đế thương xót phong làm thần, chuyên phụ trách việc gió mưa ở biển. Nhân dân thấy vậy bèn lập đền thờ Tứ Vị Đại Vương. Vì có một hoàng tử nên, thay vì gọi là Tứ Vị Vua Bà, họ gọi là Tứ Vị Đại Vương.

Thần tích về Tứ Vị Vua Bà được chép trong thần tích làng Cơ Xá (đền Lộ)

Thần tích kể lại rằng 4 vị thần được thờ đó chính là hoàng hậu, ba công chúa triều Tống. Hoàng hậu là người con gái ở Cần Hải, Hoang Châu. Sau bà làm vợ của Tống Đế Bính. Bà sinh được 3 cô công chúa những sau khi gặp nạn trôi vào cửa Cờn. Sau đó, khoảng cuối nhà Trần, khi ấy nước sông Nhị hà lên cao. Bỗng xuất hiện 4 có nồi úp dưới cái nón trôi dạt vào bờ sông thuộc bản xã. Khiến nơi đây không an ổn. Lúc ấy có vị thần báo mộng cho nhân dân phải lập đền thờ mới được yên lành. Nhân dân đã lập đền thờ và cúng bái. Thần tích này xuất hiện sau các thần tích kể trên.

Bàn về cái tên “Dương Quý Phi”

Dương Quý Phi trong tín ngưỡng “Tứ Vị Vua Bà” (thường được gọi là Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương) và Dương Quý Phi nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc thời nhà Đường là hai nhân vật hoàn toàn khác nhau.

Dưới đây là sự khác biệt chi tiết:

1. Dương Quý Phi thời nhà Đường (Lịch sử)

  • Danh tính: Dương Ngọc Hoàn (719–756), là phi tần được sủng ái nhất của Đường Huyền Tông (Lý Long Cơ).
  • Vị thế: Bà là một trong “Tứ đại mỹ nhân” của lịch sử Trung Hoa, nổi tiếng với nhan sắc tuyệt trần và câu chuyện tình yêu đầy bi kịch với Đường Huyền Tông.
  • Kết cục: Bà mất trong loạn An Sử tại dốc Mã Ngôi khi bị ép phải treo cổ để xoa dịu quân lính. Bà gắn liền với văn hóa, nghệ thuật và các giai thoại về sự sủng ái trong cung đình thời Đường.

2. Dương Quý Phi trong tín ngưỡng “Tứ Vị Vua Bà”

  • Danh tính: Đây là một nhân vật thuộc về huyền tích, được thờ phụng tại các ngôi đền như đền Cờn (Nghệ An), đền Lộ (Hà Nội).
  • Thân thế: Theo thần tích địa phương, vị này được cho là Dương Thục phi (còn gọi là Dương Thái hậu), là vợ của vua Tống Độ Tông (thời nhà Tống, thế kỷ XIII) và là mẹ của vị vua cuối cùng nhà Tống là Triệu Cương (Tống Đế Bính).
  • Tại sao có sự thờ phụng: Theo truyền thuyết, sau khi nhà Tống bị quân Nguyên đánh bại và diệt vong, các thành viên hoàng tộc nhà Tống (bao gồm cả Dương Thái hậu và các cung nữ) đã cùng nhau nhảy xuống biển tự vẫn để giữ lòng trung trinh với quốc gia. Thi thể của họ trôi dạt vào vùng biển Việt Nam và được người dân lập đền thờ phụng vì lòng cảm mến sự tiết liệt đó.
  • Tứ Vị Vua Bà: Nhóm “Tứ Vị Thánh Nương” này thường bao gồm Dương Quý Phi (Dương Thái hậu) cùng với các thành viên khác trong hoàng tộc nhà Tống (thường là các công chúa hoặc cung nữ thân cận đi cùng bà).

Tóm tắt sự khác biệt

Đặc điểmDương Quý Phi (Nhà Đường)Dương Quý Phi (Trong Tứ Vị Vua Bà)
Triều đạiThời Đường (Thế kỷ VIII)Thời Tống (Thế kỷ XIII)
Tính chấtNhân vật lịch sử, mỹ nhân cung đìnhNhân vật tâm linh, vị thần được thờ phụng
Bối cảnhLoạn An SửSự diệt vong của nhà Tống
Vai tròPhi tần của Đường Huyền TôngDương Thái hậu, mẹ vua Tống Đế Bính

Vì vậy, việc gọi vị thần trong tín ngưỡng “Tứ Vị Vua Bà” là Dương Quý Phi chỉ là cách gọi theo danh hiệu phi tần của bà trong triều đại nhà Tống, chứ không phải là Dương Ngọc Hoàn lừng danh thời Đường. Đây là hai nhân vật sống cách nhau khoảng 500 năm.

Về sự phân biệt Tứ Vị Thánh Nương và Thiên Hậu

Đôi chỗ đánh đồng hoặc gây hiểu lầm Tứ Vị Thánh Nương là Thiên Hậu.

  • Cần nhấn mạnh đây là hai vị thần khác nhau. Tứ Vị Thánh Nương (Đại Càn Quốc Gia Nam Hải) là vị thần mang tính chất “địa phương hóa” của người Việt (liên quan đến sự kiện nhà Tống tại biển Việt Nam). Thiên Hậu (Ma Tổ) là vị thần biển của người Hoa có nguồn gốc từ Phúc Kiến (Lâm Mặc). Dù có sự tương đồng về chức năng, đây không phải là một.

Thờ Phụng Tứ Vị Thánh Nương

Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương hiện rất phổ biến ở nhiều làng người Việt ven biển từ Bắc vào Nam , ngoài ra còn thấy ở các làng ven biển Trung Bộ . Tuy nhiên tục thờ này phổ biển nhất là miền biển Trung Bộ . Mà trung tâm là Đền Cờn (Nghệ An) Hàng năm, lễ hội đền Cờn lại được tổ chức trong thể với nhiều hoạt động mang nét tâm linh được diễn ra. Đền Cờn là một trong 4 ngôi đền linh thiêng bậc nhất ở Nghệ An: “Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”.

Theo Ninh Viết Giao , ngoài đền Cờn còn có hơn 30 làng khác nữa ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) thờ Tứ Vị Thánh Nương. Riêng huyền Hoàng Hóa (Thanh Hóa) cung có 20 làng thờ Tứ Vị Thánh Nương dưới dạng thờ Tống Hậu, Thiên Hậu.

Ở Quảng Nam – Đà Nẵng tục thờ Tứ Vị Thánh Nương rất phổ biến, hầu như làng nào cũng có, tuy nhiên, ít khi có miếu thờ riêng bà . Như trường hợp làng Mỹ Khê gọi là Miếu Cả, còn phần lớn là phối thờ với các vị thần khác và được gọi với cái tên là Bà Giàng Lạch, tức vị thần chủ sông biển.

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ, Tứ Vị Vua Bà là vị Mẫu Thần được phối thờ cùng hệ thống thần điện.

Lễ Tứ Vị Vua Bà gồm những gì?

Hàng năm cứ đến ngày đầu xuân năm mới hoặc ngày tiệc lễ Tứ Vị Vua Bà, nhân dân khắp nơi lại nô nức sắm lễ, quần áo chỉnh tề lên cửa Tứ Vị Vua Bà và cúng lễ. Điểm đặc biệt ở đây là, các đền thờ Tứ Vị Vua Bà thu hút rất nhiều ngư dân miền biển đến dâng lễ. Bởi người ta cho rằng các bà có quyền phép cao siêu, điều khiển thời tiết vùng biển. Xin lộc các bà ắt sẽ được yên ổn làm ăn nơi biển cả mênh mông.

Một mâm lễ Tứ Vị Vua Bà gồm các thức lễ như một đĩa hoa, một đĩa quả gồm nhiều loại quả, một cơi trầu, quả cau, nén hương, giấy tiền, và một cánh sớ. 

Thông thường sau khi dâng tiến những lễ vật này, đợi hết một tuần hương, bạn sẽ phải hạ toàn bộ những lễ vật này xuống, riêng cánh sớ và giấy tiền phải đem đi hóa. Nếu bạn muốn có một lễ vật có thể dâng cúng lâu dài trên ban thờ thánh thì có thể tham khảo Oản Tài Lộc. Oản Tài Lộc có thể được lâu với thời gian khoảng 6 tháng được trang trí tỉ mỉ, trang trọng rất thích hợp đặt trong không gian cúng lễ.

Oản được khuyến khích là loại oản ngũ sắc được trang trí tỉ mỉ với hoa lụa, lá ngọc cành vàng mang nhiều ý nghĩa tốt lành. Bởi ban thờ Tứ Vị Vua Bà có 4 vị nên phải sắm đủ 4 màu oản tượng trưng cho bốn bà.

oản tài lộc 205
Oản Tài Lộc ngũ sắc dâng tiến Tứ Vị Vua Bà
sắm lễ tứ vị vua bà
Mẫu Oản ngũ sắc dâng lễ Tứ Vị Vua Bà với kích thước nhỏ hơn

Đền Cờn (Cờn Môn) Nghệ An

Có hai ngôi đền nổi tiếng thờ Tứ Vị Vua BàĐền Cờn Nghệ Anđền Lộ tại Long Biên, Hà Nội. Trong đó, đền Cờn là nổi tiếng nhất và xuất hiện nhiều trong các thần tích về Tứ Vị Vua Bà. 

Đền Cờn Nghệ An là một ngôi đền nằm trên gò Diệc, hướng mặt ra sông Hoàng Mai. Đền thuộc địa phần phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An.

Mặt trước đền được xây dựng giống như một bến thuyền nên trông xa toàn bộ kiến trúc rất uy nghiêm và đồ sộ. Tiến lại gần, chúng ta có thể thấy rõ được vết tích thời gian lưu lại trên những chi tiết kiến trúc đền. Có sự rêu phong, có sự cổ kính. Tuy vậy trông đền vẫn rất uy nghiêm, bề thế bởi hầu hết chất liệu xây dựng đền đều từ đá.

Vì đền Cờn được xây dựng từ rất lâu nên còn lưu giữ rất nhiều vết tích kiến trúc cổ xưa như hoa văn chạm khắc tinh xảo trên các dường, cột bên trong đền và các hoa văn chạm khắc tại phía ngách nhà đền. Hiếm có ngôi đền nào lại lưu giữ được nhiều nét văn hóa cả về tinh thần tín ngưỡng lẫn nét kiến trúc truyền thống như nơi đây. 

Năm 2017, Lễ hội Đền Cờn được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (năm 2017). Bản thân ngôi đền là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia (được xếp hạng sớm hơn nhiều).

Đền Cờn hàng năm đều tổ chức lễ hội vào ngày 20, 21 tháng Giêng là ngày tiệc Tứ Vị Vua Bà đền Cờn Môn. Lễ hội đền Cờn được mệnh danh là một trong những lễ lớn và linh thiêng nhất. Tại ngày diễn ra đại lễ, người dân tiến hành rất nhiều các phần lễ nhỏ có thể kể đến lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ khai hội, lễ cầu ngư, lễ hợp tế, lễ yết vị, lễ đại tế và lễ tạ. Sau phần đại lễ là tới phần hồi. Phần hội chủ yếu phục vụ du khách gần xa tới tham quan, chiêm ngưỡng nét đặc sắc văn hóa đền Cờn với các làn điệu hát dân ca, các môn thể thao dân gian như đẩy gậy, đua thuyền…

Đền Cờn Nghệ An là tên gọi chung của Đền Cờn trong và Đền Cờn ngoài. Hai đền này đều thuộc phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Đền Cờn trong còn gọi là Đền Mẫu Cờn, đền Cờn ngoài còn gọi là Đền Ông Chín Cờn.

Tại sao Đền Cờn Nghệ An có Đền Cờn Trong và Đền Cờn ngoài.

Trước đây, nơi đây chỉ có 1 Đền Cờn đã có từ lâu đời thờ chung Tứ Vị Thánh Nương và Vua Tống Đế Bính cùng 3 vị tướng của ngài. Do quan niệm “Nam nữ thụ thụ bất tương thân” nên đầu thế kỷ thứ 19 vua Gia Long vào thời nhà Nguyễn đã điều chỉnh về thờ tự nên chuyển cung thờ Vua Tống Đế Bính cùng ba tướng nhà Nam Tống là Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt, Văn Thiên Tường từ Đền Cờn ra núi Thằn Lằn tạo nên hai Đền Cờn. Đền Cờn cũ trở thành Đền Cờn Trong (Đền Mẫu Cờn), đền ngoài núi Thằn Lằn gọi là Đền Cờn Ngoài.

Trương Thế Kiệt (张世杰): Đây là vị danh tướng nhà Nam Tống, người cùng với Lục Tú Phu phò tá Tống Đế Bính trong những ngày cuối cùng của triều đại.

Lục Tú Phu (陆秀夫): Tả Thừa tướng nhà Nam Tống, người đã cõng vua Đế Bính nhảy xuống biển tử tiết.

Văn Thiên Tường (文天祥): Một trong “Tống vong tam kiệt” cùng với Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt.

Cũng sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: “Khoảng niên hiệu Tường Hưng (1278 – 1279) nhà Tống, quân Tống bị quân Nguyên đánh vỡ ở Nhai Sơn, Thái hậu Dương Quý Phi cùng ba công chúa chạy ra biển, chợt bão nổi bị chết đuối, xác trôi giạt vào cửa Cờn, nhan sắc vẫn như lúc sống, người dân địa phương lập đền thờ”.
Có tài liệu cho rằng Tứ Vị Thánh Nương là: Thái Hậu và 2 cô công chúa (Con của vua Tống Độ Tông và Thái Hậu) và một bà nhũ mẫu.
Nhưng cũng có tài liệu cho rằng trong Tứ Vị Thánh Nương này chỉ có 1 người Tống chính là Bà Dương Quý Phi, 3 người còn lại là Hoàng Hậu mẹ Ông Hoàng Chín và 2 cô công chúa.
Xin lưu ý rằng Thái Hậu Dương Quý Phi là vợ vua Tống Độ Tông và là mẹ của vua Tống Đế Bính, còn 2 cô công chúa là ngang hàng với Vua Tống Đế Bính. Có nhiều tài liệu nhần là Thái hậu Dương Quý Phi là vợ Tống Đế Bính.

Tại sao lại có chuyện thờ Vua Tống Kế Bính và 3 tướng nhà Nam Tống và Thái hậu, Hoàng Hậu và các Công chúa Nhà Nam Tống – Trung Quốc tại đây?

Tống Đế Bính lên ngôi khi 9 tuổi vào năm 1278. Năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), do quân Tống thất bại trong trận chiến Tống – Nguyên, Vua Tống Đế Bính cùng quan quân nhảy xuống biển tự vẫn. Thái hậu và các công chúa vì thương tiếc nhà Vua cũng nhảy xuống biển tự vẫn theo, thân xác trôi dạt đến cửa Cờn (Nghệ An). Người dân nơi đây đã vớt lên chôn cất và thờ tại Đền Cờn.
Thương cảm tấm lòng nghĩa vì nước quên thân của các vị thánh nương nên nhân dân đã lập đền thờ 4 vị thánh nương và thờ luôn những người thân của họ là Vua Tống Kế Bính và 3 tướng thân tín của vua.

Lịch sử Đền Cờn Trong

Như vậy, Đền đã có từ thời nhà Trần, khi vua Trần Anh Tông đem quan chinh phạt Chiêm Thành đã qua đền làm lễ cầu đảo và đã chiến thắng trở về nên đã sắc phong cho các vị thánh nương: Quốc Gia Nam Hải Đại Cần Thánh Nương (Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Thánh Nương). Sau này khi vua Lê Thánh Tông cũng mang quân chinh phạt Chiêm Thành cũng có qua đây cầu đảo và chiến thắng trở về. Từ đó Đền Cờn ngoài đã được xây dựng khang trang như ngày nay.
“Đền Cờn được xây dựng vào năm 1312, ngay sau năm Hoàng đế Trần Anh Tông, thân làm tướng đem quân Nam chinh đánh thắng Chiêm Thành.
Trong chuyến Nam chinh ấy, trên đường đi nhà vua đã dừng đoàn chiến thuyền tại cửa Càn mà nay là cửa Cờn vào một đêm mùa đông năm Tân Hợi (1311). Nửa đêm vua chiêm bao thấy có thần nữ khóc và nói: “Thiếp là cung phi của nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, gặp sóng gió chết đuối trôi dạt đến đây, thượng đế phong cho làm thần biển ở đây đã lâu, nay thấy bệ hạ đem quân đi thiếp xin giúp đỡ lập công. Khi thức dậy vua cho gọi các cố lão ở đấy hỏi sự thực, ban tế một tuần rồi đi, thì biển không nổi sóng, tiến thẳng đến thành Chà Bàn, bắt được vua Chiêm đem về. Đến nay (tức hạ bán niên 1312 – NVG) sai hữu ty lập đền, tuế thờ cúng tế”.

Năm 1966, bị bom Mỹ trong chiến tranh phá hoại ngôi Trung Điện và Thượng Điện bị phá hủy hoàn toàn, ngôi Hạ Điện bị hư hại nặng. Năm 2011-2015 mới được trung tu và phục dựng lại. Đây là một ngôi đền rất ít hiện này khi trùng tu vẫn giữ được nét cổ.

 Đền Cờn Ngoài thờ ai

 Như trên đã nêu, Vua Tống Đế Bình và 3 viên tướng của Ngài mới được thờ nơi đây mới có từ thời vua Gia Long khi Vua Gia Long quyết định rời Vua, quan nhà Nam Tống ra đây.

Khi rời Vua, quan nhà Nam Tống ra núi Thằn Lằn thì nơi đây đã có một ngôi đền có từ thượng cổ thờ của Quan Hoàng Chín. Nên việc chuyển vưa quan nhà Nam Tống ra đây hoàn toàn không phải là xây mới mà chỉ là phối thờ giữa Vua, quan nhà Nam Tống với Quan Hoàng Chín. Chính thế, nơi đây cũng được coi là nơi thờ chính của Quan Hoàng Chín chứ không phải Quan Hoàng Chín được phối thờ vào đền của Vua Quan nhà Nam Tống. Vì vậy, đền Cờn Ngoài còn gọi là Đền Ông Chín Cờn là thế.

Có phải Vua Tống Kế Bính là Quan Hoàng Bơ phủ không?

Có tài liệu cho rằng Vua Tống Đế Bính chính là hiện thân của Quan Hoàng Bơ (tức quan hoàng Ba). Như vậy, là thần tích Quan Hoàng Ba là Vua Nam Tống hoàn toàn khác với Quan Hoàng Ba có ở đền Quan Hoàng Ba ở Hàn Sơn và Đền Hưng Công – Thái Bình là người Việt Nam. Người viết bài này cho rằng đây là sự nhầm lẫn. Vua Tống Đế Bính chỉ mới phối thờ vào Đền Quan Hoàng Chín từ đời Vua Gia Long đầu thế kỷ 19. Nên khó thể coi đây là đền chính của Quan Hoàng Bơ được. Quan điểm của người viết Quan Hoàng Bơ chưa chắc phải là Vua Tống Đế Bính. Về điều này, rất mong có được sự phản hồi của các bác tìm hiểu về Quan Hoàng Chín

Bài trí của đền Cờn ngoài

Đền Cờn ngoài của 3 gian đại bái:

    – Gian đài bái đầu gồm 5 cung: Cung chính giữa thờ Quan Hoàng Chín, Quan Hoàng Mười; bên phải, bên trái là cung thờ Quan Nam Tào, Quan Bắc Đẩu; hai đầu hồi là cung thờ Cậu bé, Cô bé bản đền.

    – Gian đại bái thứ hai thờ Ngũ Vị Tôn Ông

   – Gian thứ đại bái thứ ba thờ: Vua Tống Đế Bính và 3 tướng của ông là: Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt và Văn Thiên Tường

Đường đi tới đền Cờn Nghệ An

Đền Cờn Nghệ An nằm ở phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Để đi tới lễ đền, bạn có thể di chuyển bằng phương tiện cá nhân hoặc ô tô khách hay tàu hỏa.

Nếu đi bằng tàu hỏa, hiện nay công ty đường sắt Việt Nam có cung cấp chuyến xe tàu hỏa đến thành phố Vinh, mất khoảng 5 đến 6 tiếng. Tuy hơi lâu nhưng nó tiện lợi hơn đối với những gia đình có trẻ nhỏ. Tại bến thành phố Vinh bạn tiếp tục thuê xe hoặc đi xe buýt nội tỉnh tuyến 29. Đền cách bến khoảng 75km.

Nếu đi bằng xe khách, bạn đến bến xe Giáp Bát hoặc Nước Ngầm để đặt xe. Xe đi tới Nghệ An chủ yếu là xe giường nằm giá vé khoảng 200 000đ. Thời gian đi khoảng 5 tiếng. Bạn có thể chọn những xe đi dọc QL1A để có thể xuống tại Quỳnh Phương, Hoàng Mai và dễ dàng di chuyển vào đền. Nếu lỡ xuống bến tại thành phố Vinh. Bạn bắt xe hoặc đi xe buýt nội tỉnh tuyến 29 để đến đền.

Nếu đi bằng phương tiện di chuyển cá nhân, tốt nhất là ô tô mất khoảng 4h46p cho 224km. Theo đó bạn chỉ cần đi dọc QL1A từ Hà Nội tới Quỳnh Phương, Hoàng Mai là được. Nếu đi bằng ô tô, để nhanh hơn, bạn có thể đi bằng đường cao tốc Hà Nội Ninh Bình có trạm thu phí. Sau khi hết đoạn cao tốc này thì lại rẽ vào QL1A để đi đến đền.

đền cờn nghệ an
Lộ trình đi tới đền Cờn Nghệ An

Đền Lộ (Đại Lộ) Hà Nội thờ Tứ Vị Vua Bà 

Như đã nói ở phần trên, đền Lộ hay còn gọi là đền Đại Lộ Hà Nội là một trong hai đền nổi tiếng thờ Tứ Vị Vua Bà. Sau nhiều lần đổi địa danh hành chính, hiện nay đền Lộ nằm tại địa chỉ thôn Đại Lộ, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội.

Đền Đại Lộ thờ Tứ Vị Thánh Nương chính là mẹ con Thái Hậu Dương Quý Phi. Đền Đại Lộ nằm trong cụm di tích tâm linh với bốn đền: Chùa Ngọc Minh, Đền Mẫu Cửu thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên, Đền Dầm thờ Mẫu Thoải và Đền Đại Lộ.

Đền Đại Lộ được công nhận di tích tâm linh năm 2014.

Theo văn bia từ thời vua Bảo Đại còn được lưu giữ ở đền thần tích về Đền Đại Lộ như sau: “Tương truyền vào cuối nhà Trần, khi ấy nước sông Nhị Hà lên to, bỗng nhiên có 4 cái nồi úp dưới cái nón trôi dạt vào bờ sông thuộc bản xã, khiến bản xã không yên ổn. Giữa lúc đó có vị thần báo mộng phải lập ngay đền thờ Tứ Vị Thánh Nương thì mới được yên. Dân làng thấy vậy bèn dựng ngay đền thờ ở đây”. Tính đến ngày nay, ngôi đền đã có giá trị lịch sử trên 700 năm. Ban đầu chỉ là một ngôi miếu với nhà tranh, tre nứa. Sau năm 1937, đền được tu sửa rộng rãi với khu đền chính xây theo kiểu 2 tầng tách mái cong cong lợp ngói mũi hài. Đậm nét kiến trúc đình đền chùa cổ. Hiện nay, đền được trát bê tông và bổ sung thêm một số công trình nhỏ lẻ nữa nên trông đền rộng rãi và bề thế hơn.

Trong dân gian tương truyền rằng nơi đây ngày xưa có một thương nhân vùng Nghệ An, nơi thờ chính của Tứ Vị Thánh Nương ra vùng Xâm Dương buôn bán. Xâm Dương ngày xưa là một cửa sông buôn bán tấp nập, trên bến, dưới thuyền. Ông đã đưa chân nhang ra đây để lập một miếu nhỏ. Mọi người quan vùng đến xin lộc mua may bán đắt đều linh nghiệm. Qua nhiều đời, ngôi miếu đã trở thành Đền Đại Lộ to đẹp và khang tranh như ngày hôm nay. Tích này cũng khá giống với tích tại Đền Mẫu Hưng Yên.

Truyền thuyết còn kể một dị bản khác rằng: Xưa kia, đoạn đê ở làng quê Ninh Sở bị vỡ. Người dân trong làng tìm mọi cách để đắp lại nhưng đều không thành. Sau đó, đích thân nhà Vua cùng dân làng ra sông Nhị Hà cầu khấn, làm lễ xin Tứ Vị Thánh Nương cho hợp long khúc đê, dân làng sẽ xin lập đền thờ phụng. Lúc đó, có hai ông rắn đột nhiên xuất hiện, từ từ đấu đuôi lại với nhau. Từ đó đoạn đê được hạp long và không bao giờ bị vỡ nữa.

Lễ hội đền Đại Lộ được tổ chức từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm. Lễ đền Lộ được tổ chức nằm trong khuôn khổ lễ hội đền quan, Chùa Đại Lộ nên cực kỳ linh đình và nổi tiếng.

Đường đi tới đền Lộ Hà Nội

Đền Lộ hay đền Đại Lộ nằm tại thôn đại Lộ, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội. Nếu đi bằng phương tiện cá nhân tới đền tại trung tâm thành phố Hà Nội bạn chỉ cần đi dọc đường Nguyễn Khoái nối vào đường Đê Hữu Hồng đi thẳng là tới đền.

Nếu đi từ các bến xe nội thành như Mỹ Đình, Giáp Bát, Gia Lâm bạn có thể thuê xe hoặc đi bằng xe bus.

Bến xe Mỹ Đình – 1h40p tùy điều kiện giao thông:

  • Đối diện bến xe Mỹ Đình – xe 16 – Đối diện Phố Kim Đồng – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.
  • Từ bến xe đến FLC Green Home 18 Phạm Hùng bắt xe 60A – Trần Thủ Độ B1 – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.
  • Từ bến Mỹ Đình bắt xe 29 – 1277 Giải Phóng – đối diện 1251 Giải Phóng – 08B Vạn Phúc – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.
  • Bến xe bắt xe 21B – đối diện 1251 Giải Phóng – 08B Vạn Phúc – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.

Bến xe Giáp Bát – 53p tùy điều kiện giao thông:

  • Đối diện bến xe Giáp Bát – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.
  • Bến xe bắt xe 06D, 06C – đối diện 1251 Giải Phóng – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.

Bến xe Gia Lâm – 1h40p tùy điều kiện giao thông:

  • Từ bến xe bắt xe 01 – E3.1 điểm trung chuyển Long Biến – E3.4 Điểm trung chuyển Long Biên – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.
  • Từ bến xe bắt xe 03A – 54E Trần Hưng Đạo – 58B Bà Triệu – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.
  • Từ bến xe đi bộ tới công ty xe lửa Gia Lâm – xe 11 – 54 Nguyễn Hữu Huân – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.
  • Tại bến xe bắt xe 34 – 22b Hai Bà Trưng – 40 Ngô Quyền – xe 08B – Trang trại Thanh nhà sàn – đi bộ 450m đến đền Đại Lộ.

Bản văn Tứ Vị Vua Bà

Hoa thơm hoa nở bốn mùa

Trên ngàn xanh đua sắc hương bay

Gió rung cây lay lay cành lá

Nhác trông lên nhang xạ ngát mùi

Cảnh rừng núi anh linh lừng lẫy.

Nức danh thơm đã dậy muôn phương

Vẻ cốt cách hình dung tươi tốt,

Nét thanh tân tuyết nhường màu da

Gió thoảng đưa mái tóc rườm rà

Con tiến dâng văn tứ vị vua bà

Cờn môn nơi ấy bao xa

Danh lam cổ tích một tòa ngôi cao

Cảnh bồng lai tiêu giao một thú

Khi ngao du bến thủy sông thao

Lạng Sơn Yên Bái Nghệ An ra vào

Vận bốn mùa cầu đảo khói nhang

Khi ngự đèo kẻng lại sang Bảo Hà

Thượng ngàn nức tiếng vua bà

Ban tài tiếp lộc gần xa cho đồng 

Nguyện tâm thành sở cầu tất ứng

Sắm lễ trình ắt thời chứng cho

Vua bà chứng cho tai qua nạn khỏi

Cứu người đời thoát mọi trầm luân

Nước tiên tẩy sạch bụi trần

Lưu tài giáng phúc độ trì muôn dân

Ân trên ghi nhớ đời đời

Ngồi lặng nhìn hoa rơi lai láng

bức rèm châu thấp thoáng sang canh

Đệ tử con một dạ lòng thành

Cứu xin vua bà ngự giáng chứng minh

Độ cho đệ tử khang ninh thọ trường

Dù ai lưu xứ xa phương

Nhớ ngày mở hội về cờn môn

Lòng tôn kính dâng hương bái thánh

Độ cho người phúc thọ trường sinh

Cửa nhà phú quý khang vinh đời đời

Dưới trần gian mấy lời kêu tấu

Từ cổ triều lưu dấu anh linh

Xe loan thánh giá hồi cung.

Tham Khảo

  1. https://hatvanvn.blogspot.com/2011/02/tu-vi-vua-ba-en-con.html?m=0
  2. https://dantri.com.vn/du-lich/den-con-va-tuc-tho-tu-vi-thanh-nuong-20190306133100292.htm
  3. https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81n_C%E1%BB%9Dn
  4. https://chonthieng.com/nhan-vat/tu-vi-vua-ba-tu-vi-thanh-nuong/
  5. Long Bằng, Truyền thuyết và lễ hội về tứ vị thánh nương ở đền Lộ (Hà Nội) qua đối sánh với truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Quốc Mẫu (Giang Môn, Trung Quốc), luận văn cao học chuyên ngành văn học lưu tại Thư viện Khoa Văn, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, 2012.
  6. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985, tr.96, 97.
  7. Theo phuday.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Optimized by Optimole