Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124

An Sinh Vương Trần Liễu là vị Vương Phụ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn người được nhân dân tôn xưng là Đức Thánh Trần. Ông là người tài giỏi, một trong những nhân vật lịch sử nổi tiếng thời nhà Trần. Đồng thời ông cũng là nhân vật mà người đời thường nói tới khi nhắc đến mối hận cướp vợ của Trần Liễu với vua Trần Thái Tông.
NỘI DUNG [ẩn]
Anh Sinh Vương có tên húy là Trần Liễu. Ông sinh năm Canh Ngọ thời Trị Bình Long Ứng thứ 6 tức năm 1210, mất năm 1251 tại đất Thang Mộc (Quảng Ninh ngày nay). Ông là con trưởng của Thượng Hoàng Trần Thừa, anh ruột của vua Trần Thái Tông, Khâm Thiên tướng quốc Thái Sư Trần Nhật Hiệu và công chúa Thụy Bà. Ông là người có chí lớn, tính tình thường ngày thì ung dung, hào hoa nhưng một khi gặp việc lớn thì vô cùng sắt đá. Thời loạn lạc, phụ thân phải gánh vác việc nước, còn việc trong nhà hầu hết đều do một tay ông sắp xếp.
Trong cuộc đời, An Sinh Vương Trần Liễu được phong rất nhiều chức tước khác nhau. Đầu tiên, khi được ban hôn với công chúa Thuận Thiên, ông được vinh phong làm Phò mã đô úy và phong chức Phụng Càn Vương. Đến năm 1228, ông được vua Trần Thái Tông phong chức Thái Úy. Năm 1234 khi Trần Thừa mất, Trần Liễu được vua ban tước Hiển Hoàng Vương. Nhưng hai năm sau, năm 1236 ông bị giáng xuống làm Hoài vương vì dính vào “vụ án thông dâm” với một cung nữ nhà Lý. Sau vụ đem quân chống trả lại triều đình vì mối hận thái sư Trần Thủ Độ ép ông trao vợ cho vua Trần Thái Tông và thoát chết nhờ vua cứu năm 1237, Trần Liễu được ban tước Yên Sinh vương vì lúc ấy ông được cắt đất phong làm thang ấp ở vùng Ngũ Yên có tên là Yên Phụ, Yên Sinh, Yên Dưỡng. Sau khi mất, ông được vua ban tước Khâm Minh Từ Thiện Đại vương.
Sự kiện nổi bật nhất trong cuộc đời An Sinh Vương Trần Liễu đó chính là việc thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu trao người vợ đang mang bầu 3 tháng là công chúa Thuận Thiên cho vua Trần Thái Tông.
Theo đó, năm 1237, lúc ấy hoàng hậu của vua Trần Thái Tông là hoàng hậu Chiêu Thánh (người đã nhường ngôi nhà Lý cho Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tông) sống với nhau 12 năm mà vẫn chưa có người con nào. Triều đình lo cho hậu vận nhà Trần có thể bị mất ngôi như nhà Lý (vì nhà Lý không có con trai nên ngôi vua mới rơi vào tay nhà Trần). Mặc dù lúc ấy, người thiếp của vua Trần Thái Tông đã sinh cho ông một người con trai là Vũ Uy vương Trần Nhật Duy, nhưng vì Nhật Duy không có dòng máu của nhà Lý nên không thể kế thừa ngôi vua. Bởi lẽ, nhà Trần có được ngôi vua là do được công chúa Lý Chiêu Hoàng trao cho nên về lý mà nói, cháu ngoại của vua Lý Huệ Tông lên ngôi mới đúng nghĩa.
Lúc bấy giờ, thấy công chúa Thuận Thiên đang có mang 3 tháng với Trần Liễu, thái sư Trần Thủ Độ liền bàn với Trần Thị Dung đưa Thuận Thiên về làm vợ vua Trần Thái Tông, ép vua lấy chị dâu mình và lập làm hoàng hậu. Đồng thời phế người vợ đã chung sống 12 năm là Chiêu Thánh hoàng hậu xuống làm công chúa. Vua Trần Thái Tông lúc ấy phản đối kịch liệt, bèn rời khỏi kinh thành lên núi Yên Tử. Thái sư Trần Thủ Độ lúc ấy lập tức đưa quân đi tìm vua Trần Thái Tông và thuyết phục ngài trở về.
Nhân việc Thái sư kéo quân đi buông lỏng phòng bị, Trần Liễu vì uất ức bị mất vợ đã sắp đặt quân đội chuẩn bị đánh chiếm triều đình. Nhưng điều không ngờ là tất cả sự việc đã được thái sư Trần Thủ Độ tính toán. Ngay lúc ông đang kéo quân đánh vào kinh thành thì bị quân triều đình bao vây.
Vì không đủ sức chống trả lại quân triều đình, để thoát được cái chết, Trần Liễu đã nghĩ ngay đến người em thân thiết của mình là vua Trần Thái Tông. Chỉ vua mới cứu được ông lúc này. Trần Liễu đã ngầm hẹn với vua Trần Thái Tông đúng giờ ngự thuyền ra sông Cái Cứu mình. Khi giả làm người dân thường đánh cá, Trần Liễu đã gặp được Trần Thái Tông. Khi ấy, đúng lúc Trần Thủ Độ đến. Trần Thái Tông đã lấy thân mình che chở cho Trần Liễu khiến Trần Thủ Độ không thể làm gì được. Trần Thủ Độ thấy cảnh này mới tức lên và ném gương xuống sông nói: ”Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịch thế nào?”.
Sau vụ việc này, binh lính của Trần Liễu đều bị giết hết sạch. Nhờ sợ hòa giải của bà Trần Thị Dung vợ thái sư Trần Thủ Độ mà ông và vua Trần Thái Tông đã tha thứ cho nhau và tình cảm anh em trở lại như xưa, như chính sử đã ghi.
Tuy nhiên, dù chính sử nói là vậy nhưng mâu thuẫn trong lòng An Sinh Vương Trần Liễu vẫn còn đó. Thậm chí mâu thuẫn này còn trở thành mối hận sâu sắc đến mức trước khi chết Trần Liễu vẫn còn trăng trối lại với con mình là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”.
Tại sao lại có mâu thuẫn này? Phải chăng có điều gì uẩn khúc bên trong?
Mối hận này vốn xuất phát từ việc thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu dâng vợ của mình là Thuận Thiên công chúa cho vua Trần Thái Tông. Nhưng chính Trần Liễu cũng là người hiểu rằng tất cả mọi người đều là nạn nhân của sự xếp đặt dưới tay của thái sư Trần Thủ Độ. Rồi chính vua Trần Thái Tông cũng vì không đồng ý với điều này nên đã bỏ kinh thành lên Yên Tử theo Phật. Rồi chính vua cũng là người cứu Trần Liễu khi ông kéo quân đánh chiếm triều đình. Vậy tại sao lại có mối hận thù sâu sắc này? Nguyên nhân chính là ở đâu?
Tác giả Đinh Ngọc Thu (Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt) cho rằng vì tình cảm anh em được trở lại như xưa mà có lẽ vua Trần Thái Tông đã hứa với anh mình dù rằng thái sư Trần Thủ Độ có bắt vợ anh về làm vợ mình thì trong cung ông vẫn sẽ giữ khoảng cách chị dâu và em chồng, tuyệt nhiên không phạm tới thân thể của chị dâu. Có lẽ bởi vậy Trần Liễu mới nguôi ngoai và làm lành trở lại. Thế nhưng thực tế, sau khi bà sinh Trần Quốc Khang, người con bà mang thai trước với Trần Liễu thì bà tiếp tục đẻ thêm rất nhiều vị hoàng tử khác cho vua Trần Thái Tông như Trần Hoảng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Vĩnh và Trần Ích Tắc. Phải chăng đây chính là lý do giải thích cho mối hận thù sâu sắc mà Trần Liễu dành cho em mình. Bởi ông cho rằng, ban đầu thì lỗi lầm chính là do thái sư Trần Thủ Độ nhưng về sau thì chắc chắn là do em mình tức vua Trần Thái Tông đã bội hứa với ông.
Nhân dân tưởng nhớ An Sinh Vương Trần Liễu lại ghi ơn người đã có có ơn sinh thành nên 7 người con tài giỏi xuất chúng, lập nhiều chiến công chống quân Nguyên Mông bảo vệ toàn vẹn nước nhà, đã lập đền thờ ông tại rất nhiều nơi. Các đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu đều được nhân dân thường xuyên tề tựu về dâng hương dâng lễ thành tâm cúng khấn, đặc biệt là vào những ngày lễ tiết lớn trong năm như ngày đầu năm mới, hay ngày tiệc An Sinh Vương Trần Liễu.
Nhân dân khi đến đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu thường sắm một mâm lễ đủ đầy gồm các thức lễ như một đĩa hoa, một đĩa quả gồm nhiều loại quả, cơi trầu, cút rượu, xôi thịt, thẻ hương, giấy tiền và một cánh sớ.
Thông thường sau khi dâng tiến những lễ vật này, đợi hết một tuần hương, bạn sẽ phải hạ toàn bộ những lễ vật này xuống, riêng cánh sớ và giấy tiền phải đem đi hóa. Nếu bạn muốn có một lễ vật có thể dâng cúng lâu dài trên ban thờ thánh thì có thể tham khảo Oản Tài Lộc. Oản Tài Lộc có thể được lâu với thời gian khoảng 6 tháng được trang trí tỉ mỉ, trang trọng rất thích hợp đặt trong không gian cúng lễ.
==========
=====
Posted on by Oản Cô Tâm
Bắc Ninh là một trong những tỉnh có nhiều ngôi đền chùa nhất Việt Nam, được nhân dân gần xa biết đến là đất Phật hay sở hữu nhiều di tích lịch sử văn hóa liên quan đến họ Trần. Trong đó, ngôi đền thờ An Sinh vương Trần Liễu tại huyện Thuận Thành được ví là điểm sáng văn hóa tâm linh vùng Kinh Bắc. Nếu có dịp du lịch hành hương tới Bắc Ninh thì đây là điểm đến mà bạn không thể bỏ qua.
NỘI DUNG [ẩn]
Đền tọa lạc tại phía Tây thôn Tư Thế, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đây là vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời và có truyền thống hiếu học khoa bảng. Đặc biệt, quần thể di tích cổ kính là đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu – thân phụ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là biểu tượng linh thiêng của người dân làng Tứ Thế nói riêng và người Bắc Ninh nói chung.
Nói về An Sinh vương Trần Liễu, ông là anh ruột của vua Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của nhà Trần. Ông là cha đẻ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng dân tộc văn võ song toàn, có công lao to lớn trong ba cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông. Dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, nhân dân Đại Việt đã 3 lần dẹp quân xâm lược của đế quốc Nguyên-Mông (năm 1258, 1285, 1288). Từ đó giữ vững được nền độc lập dân tộc, vẹn toàn được non sông đất nước.
Xem thêm: An Sinh Vương Trần Liễu – Tiểu sử cuộc đời và những câu chuyện lịch sử lưu danh hậu thế.
An Sinh Vương Trần Liễu là người luôn lấy dân làm gốc, đặt lợi ích của dân tộc lên hàng đầu. Bởi vậy, Ngài luôn sống mãi trong tiềm thức dân gian và được nhân dân nhiều vùng thờ kính nghiêm cẩn. Tương truyền, Tư Thế được cho là vùng đất “thang mộc” (khu vực, vùng đất được sở hữu) của An Sinh Vương Trần Liễu và Ông được nhân dân nơi đây thờ phụng làm Thành hoàng làng. Đền được khởi dựng từ thời Trần, sau khi An Sinh vương Trần Liễu mất (5/1251). Cho đến thời Lê và Nguyễn, đền đã được sửa sang, chạm khắc trang trí nghệ thuật mang nhiều giá trị tâm linh quý giá. Sau đó, trải qua lịch sử hàng ngàn năm, ngôi đền đã bị xuống cấp nặng. Người dân và các nhà hảo tâm đã quyên góp trùng tu, tôn tạo lại đền với quy mô lớn và đền trở nên khang trang, bề thế như hiện nay.
Đền được thiết kế với kiến trúc cổ xưa với 3 gian mái chồng diêm, tạo ra được khoảng thông thoáng về chiều cao và ánh sáng. Ngôi đền đại diện cho kiến trúc đền đình thời Trần, vưa uy nghi vừa mang nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật của dân tộc.

Đến với đền, khách hành hương sẽ được tham quan chiêm ngưỡng những cổ vật trong đền còn bảo lưu được như: thần phả, sắc phong, bia đá và nhiều đồ thờ tự khác. Trong đó, tấm bia đá “Thần tích” được dựng vào triều vua Tự Đức đã cho biết nhiều thông tin quý giá về lịch sử, tín ngưỡng và phong tục tập quán của làng xã nơi đây.

Đền thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 30 km. Quý khách có nhiều sự lựa chọn về phương tiện di chuyển tới đây như sau:
Là địa điểm tâm linh mang nhiều giá trị lịch sử của dân tộc, cứ vào đầu xuân năm mới hay mùng 1. ngày rằm, đền thờ An Sinh vương Trần Liễu tại Bắc Ninh lại là nơi dừng dân của nhiều du khách xa gần để tham quan, chiêm bái những giá trị truyền thống đất nước. Ai ai cũng một lòng thành kính dâng mâm lễ, nén hương tưởng nhớ đến công ơn An sinh vương Trần Liễu và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn cùng gia tộc. Cũng là để cầu mong các Ngài phù hộ độ trì cho gia khuyến bình an, may mắn.

Lễ dâng Ngài không nhất thiết phải to nhưng phải thành tâm. Người dâng lễ có thể đặt lễ chay hoặc lễ mặn tùy tâm. Lễ chay gồm: hương, hoa tươi, quả chín, phẩm oản, xôi chè. Lễ mặn gồm: gà, giò, trầu cau, rượu…
Oản Tài Lộc là sản phẩm được nhiều khách hàng lựa chọn để đặt lên mâm lễ để thêm phần bế thế, trang trọng.
Oản lễ đã là thức bánh này gói gọn tinh hoa của đất trời, trở thành vật phẩm dâng cúng từ đời cha ông ta đến nay. Sáng tạo từ những quanh oản nhỏ xin được bọc giấy kính nhiều màu, oản Tài Lộc ra đời nhờ bàn tay tài ba và lành nghề cùng sự sáng tạo của các nghệ nhân làm oản. Đam bảo đồ lễ của bạn sẽ luôn mang sự sang trọng, tinh tế và ý nghĩa nhất.
Xem thêm: Hướng dẫn cách dâng Oản Tài Lộc thành kính có thể bạn chưa biết
Là đơn vị nghiên cứu chuyên sâu về tín ngưỡng tâm linh của người Việt để thiết kế lên những mẫu oản Nghệ Thuật, quý khách có thể tham khảo các mẫu Oản lễ thích hợp dâng đền thờ An Sinh vương Trần Liễu tại Oản cô Tâm:


Oản cô Tâm là đơn vị chuyên về Oản lễ Tài Lộc dâng lễ Tứ Phủ – Gia Tiên – Phật – Thần Tài. Tại đây, quý khách có thể đặt mua những mẫu oản lễ thiết kế sáng tạo, mới lạ và tinh xảo đến từng chi tiết và nhận được tư vấn nhiệt tình về sản phẩm.
Oản cô Tâm cung cấp phụ kiến làm oản sang trọng, chất lượng như hoa lụa, vàng giả kim, hoa lá nhũ,…được đảm bảo cam kết về chất lượng. Quý khách có thể tự do sáng tạo những mẫu oản lễ phù hợp với mong muốn của mình. Oản cô Tâm sẽ hỗ trợ quý khách lựa chọn sản phẩm sao cho ý nghĩa và phù hợp nhất với mục đích sử dụng.
Con lạy chín phương trời- Mười phương Chư Phật – Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng – Thiên – Hậu – Thổ , Chư – vị Tôn – thần.
– Con kính lạy ngài Kim- Niên- Đương cai Thái – tuế chí đức Tôn – thần.
– Con kính lạy ngài Bản – cảnh Thành – Hoàng chư vị Đại – Vương.
Hưởng tử con là……Tuổi…..
Ngụ tại………
Hôm nay là ngày/tháng/năm………………..(Âm lịch)
Hương tử con đến đền An Sinh Trần Liễu Bắc Ninh thành tâm kính nghĩ: Đức – Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành – Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, tâm vàng hiến tế phẩm oản hương hoa
Cầu mong đức Bản cảnh Thành – hoàng chư vị Đại – Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, tai qua nạn khỏi, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.
Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
=-======================
===========================
==================
Trần Liễu [陳柳]
1211
23/04/1251
AL 01/04: Tiệc Vương Khảo Trần triều An Sinh Vương, truy phong Khâm Minh Đại Vương
Bố
An Sinh Vương [安生王]
Khâm Minh Đại Vương [欽明大王]
– Trần triều Vương Khảo
– Trần triều Vương Phụ
Trần Nguyên Tổ [陳元祖] (dù ông chưa hề làm hoàng đế, nhưng được con cháu truy phong. Tên tự của ông là Trần Lý [陳李])
Trần Thái Tổ [陳太祖]
Thuận Từ Hoàng Hậu
– Thuận Thiên Công Chúa [順天公主] (sau này kết hôn với Trần Thái Tông và trở thành Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng Hậu [顯慈順天皇后])
– Thiện Đạo Quốc Mẫu [善道國母] (mẹ của Hưng Đạo Đại Vương)
– Tuệ Trung Thượng Sĩ [慧中上士] (tự Trần Tung [陳嵩]
– Hưng Đạo Đại Vương [興道大王] (tự Trần Quốc Tuấn [陳興道])
– Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Hậu [元聖天感皇后] (vợ chính của vua Trần Thánh Tông, tự Trần thị Thiều [陳氏韶])
Các con của Hưng Đạo Đại Vương:
– Hưng Vũ Vương [興武王]
– Hưng Hiến Vương
– Hưng Nhượng Vương [興讓王]
– Hưng Trí Vương [興智王]
– Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Hậu [欽慈保聖皇后] (vợ chính của vua Trần Nhân Tông)
– Tuyên Từ Hoàng Hậu [宣慈皇后] (vợ chính của Trần Nhân Tông, sau khi Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Hậu qua đời)
– Anh Nguyên Quận Chúa [英元郡主]
-=========
================================================
Trần Liễu (chữ Hán: 陳柳; 1211 – 23 tháng 4, 1251), hay An Sinh vương (安生王) hoặc Khâm Minh đại vương (欽明大王), sinh vào niên hiệu Kiến Gia thứ 1 tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông là một tôn thất thuộc hoàng tộc nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, là con đích trưởng của Trần Thái Tổ, anh ruột của Trần Thái Tông, cha ruột của Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu của Trần Thánh Tông là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu.
Khi ông sinh ra và trưởng thành, họ Trần lúc đó dẫn đầu là Trần Tự Khánh đang là thế lực quân phiệt với dã tâm thâu tóm quyền lực của nhà Lý, buộc Lý Huệ Tông phải nương nhờ mình. Tới năm 1216, lúc này ông lên 6 tuổi, chính quyền Lý Huệ Tông cơ bản hoàn toàn nằm trong tay họ Trần. Không rõ vào thời gian nào, Trần Liễu được ban hôn với Thuận Thiên công chúa, chị của Lý Chiêu Hoàng, con gái của Lý Huệ Tông, đồng thời còn là chị em họ của ông, vì mẹ của Thuận Thiên là Trần Hoàng hậu.
Trên thực tế, ông là cha ruột của Hoàng trưởng tử Trần Quốc Khang của Thái Tông hoàng đế, vì Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu đã mang thai 3 tháng trước khi bị ép buộc lấy Thái Tông vào năm 1237. Việc này đã làm ông nổi loạn ở sông Cái và bị giáng tước vị, trở thành một đề tài thị phi lúc bấy giờ.
Năm 1224, Chiêu Thánh công chúa lên ngôi, tức Lý Chiêu Hoàng. Người chú họ của ông, Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ, đã sắp xếp em trai ông là Trần Cảnh và Chiêu Hoàng gần gũi với nhau, dẫn đến việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh vào cuối năm 1225, chấm dứt triều đại nhà Lý tồn tại hơn 200 năm.
Trần Cảnh lên ngôi, tức Thái Tông Nguyên Hiếu hoàng đế (太宗元孝皇帝) của nhà Trần. Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng hậu.
Tháng 8 âm lịch năm 1228, ông được Thái Tông phong cho làm Thái úy, dự hàng Tể tướng dù lúc đó ông chỉ mới 17 tuổi. Đến tháng 8, năm 1234, ông được phong hiệu làm Hiển Hoàng (顯皇), một tước vị thường do Hoàng đế tự xưng, điều này cho thấy Trần Thái Tông rất cất nhắc ông, từ đây ông chính thức ra chính trường phụ chính cho Thái Tông bên cạnh Thái sư Trần Thủ Độ. Năm 1236, bị giáng làm Hoài vương (怀王), do bị phát hiện cưỡng bức một cung nhân triều Lý cũ.
Năm 1237, vì Thái Tông lấy Lý hoàng hậu mãi không có con, Thái sư Trần Thủ Độ đưa Thuận Thiên công chúa vợ ông, lúc ấy đã có mang 3 tháng vào làm Hoàng hậu thay thế, giáng Lý hoàng hậu trở lại làm Chiêu Thánh công chúa. Đứa trẻ sinh ra là Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang.
Trước tình cảnh đó, Trẫn Liễu phẫn uất họp quân nổi dậy. Thái Tông chán nản bỏ đi lên Yên Tử, nhưng Trần Thủ Độ gây sức ép cũng đành phải quay về. Sau Trần Liễu biết không làm gì được phải đóng giả làm người đánh cá trốn lên thuyền Thái Tông xin tha tội. Thủ Độ biết được, cầm gươm đến định giết Liễu nhưng Thái Tông lấy thân mình che cho Liễu. Thái Tông tha tội Trần Liễu nhưng quân lính theo ông đều bị giết.
Để an ủi ông, Thái Tông lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (thuộc Quảng Ninh hiện nay) cho ông làm ấp thang mộc, phong làm Yên Sinh vương (安生王).
Năm 1251, Trần Liễu sắp qua đời. Ông dặn người con trai của mình là Trần Quốc Tuấn phải cướp ngôi nhà Trần. Quốc Tuấn nhận lời nhưng không thực hiện.
Nhân dân tưởng nhớ An Sinh Vương Trần Liễu lại ghi ơn người đã có có ơn sinh thành nên 7 người con tài giỏi xuất chúng, lập nhiều chiến công chống quân Nguyên Mông bảo vệ toàn vẹn nước nhà, đã lập đền thờ ông tại rất nhiều nơi. Các đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu như Đền Cao, Đền thờ An Sinh Vương – Bắc Ninh, Đền An Sinh Quảng Ninh đều được nhân dân thường xuyên tề tựu về dâng hương dâng lễ thành tâm cúng khấn.
Đặc biệt là vào những ngày lễ tiết lớn trong năm như ngày đầu năm mới, hay ngày tiệc An Sinh Vương Trần Liễu (1/6 Âm lịch).