Chiêm dung phụ vũ phổ hóa hậu trạch hộ quốc phù vận vũ dũng dược thánh anh linh Đại vương (Tản Viên Sơn thánh – Cao Sơn tá thánh – Quý Minh tá thánh – Long Linh cương nghị Đại vương)

Thông tin cơ bản

Bản chính của Bộ Lễ triều ta

Xưa, Hùng Vương mở vận ở vùng núi cao, gánh vác cơ đồ trong hơn 20 năm. Hùng Vương dựng nước, núi xanh vạn dặm sáng tạo nền móng kinh đô cung điện; Nước biếc một dải mở đường cho các bậc thánh để vua hiền. Giúp vật, giúp dân, thống nhất 15 bộ xưng hiệu là Bách Việt lấy làm khởi tổ. Có thơ rằng:

Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương, Nhất thống sơn hà thập bát vương, Thập bát thế truyền thiên cổ tại, Ức niên hương hỏa ức niên phương.

(Xưa, nước Nam mở cõi từ thời Kinh Dương Vương, Thống nhất núi sông là 18 đời vua. Truyền 18 đời từ ngàn đời xưa vẫn tồn tại, Ức năm hương hỏa, ức năm vẫn tỏa hương thơm ngát).

Lại nói, đến thời Hùng Vương thứ 18 truyền đến đời Duệ Vương, vua đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, xây dựng nước Văn Lang lấy hiệu là thành Phong Châu. Vua là người mưu lược hùng tài, có tư chất thông minh của bậc thánh, kế nối cơ nghiệp của tổ tông, bồi đắp 18 đời nền móng vững mạnh. Trong thì tu văn đức, ngoài thì phòng bị biên cương, dốc sức giữ hưng thịnh yên bình để yên trong nước.

Thời trước đó, tại động Lăng Sương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây có ông họ Nguyễn tên là Cao, vợ họ Đinh, húy là Điên. Em trai tên húy là Hành, vợ là họ Đầu, húy là Dụ. Cả hai vợ chồng anh em đều là những người phúc đức, tuy làm nghề thợ mộc nhưng lại hay làm việc thiện, một chút việc thiện cũng giúp, còn con việc ác cũng không làm, nửa điểm [2a] hại người cũng không có, một tý lợi lộc cũng không màng. Người dân địa phương đó ai cũng khen gia đình tích đức ắt có nhiều niềm vui. Người em là ông Hành, một hôm bà họ Đầu đi lấy củi ở dưới chân núi Tản thấy dấu chân con hổ, từ đó trở về nhà, bỗng thấy mình mang thai. Vào ngày mồng 6 tháng 8 năm Giáp Dần, sinh ra một bào thai nở ra hai cậu con trai, tư chất thông minh, mặt mũi khôi ngô, chẳng biết đứa nào là anh, đứa nào là em, liền đặt tên cho người con thứ nhất là Sùng, tự là Cao Sơn; người con thứ hai là Hiển, tự là Quý Minh. Chỉ còn hai vợ chồng người anh tên là Cao, đã có tuổi nhưng vẫn muộn màng đường con cái.

Vào một đêm, bà họ Đinh nằm trên giường, bỗng thấy rồng vàng từ trên trời bay xuống, phun nước vào người bà. Bà bỗng thất kinh tỉnh giấc, ra thưa lại chuyện với ông Cao. Ông bảo:

– Tất là điềm lành rồi.

Từ đó bà họ Đinh thấy mình mang thai. [26] Vào ngày mồng một tháng Giêng năm Nhâm Thìn bà sinh hạ được một cậu con trai thông minh dĩnh ngộ, tướng mạo khác thường, ông đặt tên là Tùng, tự là Tuấn Tịnh. Năm lên 3 tuổi đã biết lễ nghĩa, kính nhường. Nghe học mà có thể biết thẩm định qua âm đọc. Người bấy giờ đa phần đều thán phục, cùng suy tôn làm thánh đồng xuất thế. Đến khi người em là Hành cùng vợ là họ Đầu đều qua đời, ông Sùng và ông Hiển đều chọn đất lành để làm lễ mai táng. Sau 3 năm trở tang cha mẹ xong, ông Tùng lúc đó mới lên 7 tuổi thì ông Cao cũng không bệnh mà mất, chỉ còn lại người mẹ. Nhờ có thần lực, gặp cảnh nhà nhà nghèo khó ông bèn đi hái củi bán để lấy tiền nuôi mẹ. Ma thị bà thấy ông có hiểu bèn gọi lại cho ông một khu rừng để ngày ngày hái củi nuôi dưỡng mẹ, báo ơn đức cù lao sâu nặng của mẹ cha, ngõ hầu mong được ân thưởng của triều đình.

Một hôm [3a] ông đi hái củi ở trong rừng, lão bà Thái Bạch nghe nói ông là người có hiếu, chẳng phải người thường, lập tức ban cho cây gậy linh thiêng và thần chú. Lại dặn dò rằng:

– Đầu gậy có thể cứu sống người, dưới gậy có thể trừ tất thảy mọi điều nguy hại cho dân chúng. Gậy này chỉ đất, đất nứt, chỉ sông, sông cạn, phép thuật rất linh nghiệm, huyền diệu. Chỉ lên trời mây đen tứ bề nổi lên, có thể soi thấu cửu trùng. Cẩn thận, cẩn thận, không thể, không thể [làm bừa].

Khấn xong Thái Bạch đại thần nhảy lên không trung bay đi. Ông Tùng được lời chú và cây gậy liền lập tức trở về động núi bái tạ Ma Thị bà. Mọi việc nuôi dưỡng mẹ đều nhờ vào gậy thiêng và còn cứu giúp nhân gian việc sinh tử.

Một chiều, ông trở về động Lăng Sương, nhân đó tự mệnh cho mình là thần sư. Ngày hôm đó ông đi qua thôn Cốc, sách Thủ Pháp bỗng thấy có hơn 500 con hổ và voi đang trên đường trở về gây cản trở ở đường. Trăm loài thú hốt hoảng tìm đường chạy. Thần sư bèn lấy gậy chỉ vào đàn voi hổ, lập tức đàn hồ chạy về phía bắc, đàn voi chạy về phía đông. [36] Dưới đầu gậy tất cả đều phải bỏ chạy. Nhờ đó mà đường đi lại được thông. Ông đi đến bờ sông thấy trời nước một màu, đàn cò bay trong ráng chiều, trên sông tịch mịch, trơ chiếc thuyền không. Thần sư bèn lấy gậy chỉ vào lập tức như hồn trong mộng, gậy lại dẫn đường, dòng nước bỗng nhiên rẽ ra, trên sông không có đường bỗng biến thành đường, đi lên trên như có đất bằng. Khi đến châu Trung Độ, trang Ma Xá (lại có tên là châu Trường Sa), ông bỗng thấy bọn trẻ chăn trâu tụ tập đang đánh một con rắn đen, đùa nghịch hò nhau kéo rắn. Thần sư thấy rắn động lòng thương, dấy niềm thiện đến cứu. Ông năn nỉ bảo bọn trẻ rằng:

Các cháu chơi làm gì, hãy nên bán cho ta được không?

Bọn trẻ cười rồi đồng ý. Thần sư lấy 36 văn tiền mua rắn rồi đem đến xứ Thượng, châu Trường Sa đọc thần chú rồi lấy gậy thiêng chỉ vào con rắn, lập tức như hồn trong mộng tất cả theo gậy chỉ dẫn, con rắn liền sống lại. [4a] Rắn đen liền cúi đầu bái tạ thần sư. Thần sư vọng nhìn ra xa thấy rắn đen vượt lên đi mất. Rắn đen rẽ nước trở về Động Đình, đem chuyện kể lại đầu đuôi cho Long Vương nghe. Long Vương nhớ đến công đức ấy bèn sai Thái tử cùng Xà long đô đốc đến đón thần sư ở động ấy. Thần sư trở về Ngọc Tản Lĩnh Sơn cáo tạ với song thân và gia thần ở nhà đi theo xuống thủy phủ, theo tới Long cung. Khi qua bức tường gấm và cửa son, từ xa ông đã nhìn thấy cung châu gác ngọc, tầng tầng lớp lớp, bề tôi cá côn, tướng soái rùa biển xếp hàng la liệt, đi đi lại lại. Số còn lại là bọn lính rùa, ba ba đứng vòng tròn xung quanh cung điện. Vua ngự ở tòa chính, đón rước thần sư vào ngồi bên phải long sàng bảo rằng:

Đông cung Long chủng là Thái tử của trẫm. Hôm qua du chơi ở điện Linh, đài Tùng (gọi là [4b] đền Linh, châu Giang, trại Sơn Bạn-NC),

gặp bọn trẻ chăn trâu ở Trường Sa, bị chúng giết. May nhờ thần sư cứu giúp. Thật là ơn lớn đại nghĩa. Hôm nay ta mời tới muốn lấy tấm chân tình để báo đáp.

Thần sư cười nói:

Thủy phủ và dương gian hai nẻo khác nhau. Người mang tỉnh cỏ, kẻ mang cốt rồng thì làm sao có thể hiểu được. Nhà tôi các đời đều làm việc thiện, nay được phép thần, mấy hôm trước nhân văng du tạm cứu được việc ấy, đó cũng là xuất phát từ nhân tâm, lẽ nào ý hôm nay lại được gần với lễ nghi long trọng, còn dám nhận báo đáp nữa sao.

Hôm đó ở trong cung mở yến tiệc lớn, phô bày đệm long văn, đèn dầu phượng, giường ngọc bình hương, ngọc kim oanh mã não đều là những loại kỳ lạ quý báu, quả thực thế gian cũng chẳng có ai có được. Tất cả được bày la liệt, mãn nhãn. Vua bày yến tiệc thịnh soạn, tự mình khuyên mời thần sư. Thần sư lại thưa rằng:

– Con người sớm gặp được đời sáng sủa, việc kỳ lạ hiếm gặp, [5a] nay may vượt sóng gió từ xa tới được chốn này, bình sinh giấc mộng bên gối cũng sao vui được như thế.

Tiệc xong vua lại lấy tiền vàng vật báu trao tặng, nhưng thần sư cố từ chối không nhận. Thái tử bèn tâm tình riêng bảo rằng:

Hôm nay được gặp long nhan, thật là một lúc nhưng ngàn năm được tôn làm thầy. Công đức ấy cá kình biển rùa núi đội của cải thì cũng chỉ nhẹ như ngọn lông, cũng chẳng đủ để báo đáp ơn đức ấy. Vua nay có một quyển sách thần, mật pháp được truyền đầy đủ. Vốn xưa nay linh thông triệt đất đều tại ở đầu lưỡi nguyện ước. Thần sư nếu muốn lấy cái đó thì ta sẽ mật tâu với vua báo đáp bằng vật ấy.

Thần sư bảo:

– Ý của ta cũng muốn được vật đó.

Thái tử bèn tâu lên vua. Vua nghĩ đến công đức của thần sư mới lấy sách đó trao cho ông. Thần sư mượn được sách đó bèn từ tạ vua trở về. Vua cho Thái tử đem quân đi tiễn. Thần sư trở về tới Giang châu trở lại động [5b] cũ. Thần sư nhân đó từ biệt trở về động Lăng Sương dùng gậy cầu ước, khấn sách ước nói rằng:

– Xin tự nhiên hóa thành đài gác muôn vật, tiền vàng đủ dùng.

Sau đó thần sư nói với lão bà rằng:

Nghĩa nhi lúc vì hàn cùng ở với mẹ. Công đức của mẹ lớn như trời biển. Mang thai 10 tháng công đức tựa sông Hoàng Hà, như núi Thái Sơn [con muốn lấy những thứ đó] để làm sáng đạo hiếu.

Ngày hôm đó lão bà họ Đinh qua đời. Thần sư làm tang lễ đầy đủ theo nghi thức, rồi cho lập đền miếu để tứ thời hương hỏa phụng sự như nghi thức. Sau khi hết tang 3 năm, Duệ Vương hạ chiếu cho các châu huyện tiến cử người hiền tài, văn võ song toàn, học vấn uyên thâm, một nghề tinh thông, những người đó tất cả sẽ được ban quan tước. Hai ông Cao Sơn và Quý Minh ở huyện Thanh Châu liền ra ứng tuyển. Vua thấy hai ông thiên tư dĩnh ngộ, học lực tỉnh thông, thuộc đọc binh thư, lại giỏi võ nghệ bèn phong hai ông làm chỉ húy sứ tả hữu [6a] tướng quân. Từ đó đội ơn mưa móc của thánh, hưởng ơn sâu nặng của vua, chuyện hương hỏa cũng phải có duyên vậy.

Bấy giờ cơ đồ họ Hùng mạt vận, ý trời đã cáo chung, Duệ Vương sinh được 20 người con trai, 6 cô công chúa nhưng tất cả đã theo gót tổ tiên về nơi để hương. Duy chỉ còn hai cô công chúa, thứ nhất là Tiên Dung công chúa gả cho Chử Đồng Tử, thứ hai là Mỵ Nương2 công chúa thì cung thiềm còn đóng, ngọc nhụy ấp e; khế ước lương duyên chưa có, kỳ đẹp còn chờ chưa quyết định. Duệ Vương bèn lập lầu ở trước cửa thành Việt Trì, gửi chiếu truyền đi khắp thiên hạ, trong thần dân ai là người anh hùng, có tài trí đức độ hơn người thì sẽ nhường ngôi vua và gả con gái cho.

Nghe nói ở núi Tản Viên, huyện Thanh Châu có người họ Nguyễn tên là Tùng có kỳ tài thông thiên văn tường địa lý, có phép thuật chuyển sông dời núi, được coi là người tài bậc nhất trong thiên hạ. Vua bèn cho gọi công chúa tới để gả, nhường cho ngôi báu. [66] Bấy giờ họ Thục tên là Phán người Ai Lao cũng vốn là tông phái của họ Hùng, được phân cai trị Ai lao nên đổi họ thành họ Thục. Thục Phán nghe nói Duệ Vương tuổi đã cao nhưng 20 hoàng tử đều đã về nơi tiên cảnh, chẳng có người nối dõi nên định nhường ngôi cho con rể là Sơn thánh. Thục Phán bèn nhân cơ hội đó cầu viện nước lân bang, chuẩn bị tinh binh hơn 100 vạn người, tuấn mã hơn 8 ngàn con, tiến quân bằng cả đường bộ, đường thủy, thanh thế chấn động. Ngoài biên giới, một ngày 5 lần biên thư cấp báo. Duệ Vương lo lắng bèn triệu Sơn thánh tới hỏi kế sách. Sơn thánh tâu rằng:

– Hơn 120 năm vua hiền kế nối, sáu, bảy đời chịu hưởng ơn sâu, ngấm vào cốt tủy. Nay nước giầu binh mạnh, uy đức của bệ hạ ra cả ngoài biển cả, lòng trời còn giúp sẽ giáng anh hùng, như hai vị Cao Sơn, Quý Minh, như thần núi thần sông cũng ra giúp sức. Đội ơn sự thế nay như vậy, nguyện [7a] xin đức vua sai Cao Sơn, Quý Minh đi tuần hành trước, chặn hết các ngả đề phòng bất trắc, còn thần xin nguyện thay vua gánh vác việc này, quân Thục bất quá chỉ trong mươi ngày là có thể bình được.

Vua nghe nói thế mừng rỡ cho triệu hai ông tới hỏi. Vua phong Tản Viên Sơn thánh làm Thượng tướng quân trước đi tuần hành chặn khắp các nơi. Cao Sơn làm Tả kiên thần biến; Quý Minh làm Hữu kiên tuần phòng. Đi tuần tất cả hai đường phía tây phía bắc, bên sông dưới núi. Nhận mệnh xong các ông đều hùng dũng ra đi. Duệ Vương làm thơ úy lạo rằng:

Chinh lữ hành hành xuất ngọc quan,
Tam quân như nhất một hào đoan,
Mã đề thậm sử phong khinh lực,
Hổ trương hưu hiểm tuyết sấu nhan.
Thiên lý trì khu, thiên lý mộng,
Nhất trùng ly biệt, nhất trùng san,
Kiếm cung tự cổ anh hùng sự,
Bả liễu gian nan bất giác hàn.

(Đoàn quân từng hàng từng hàng ra khỏi cửa ải,
Ba quân như một, thành một đường thẳng tắp,
Vó ngựa càng khiến cho sức gió thêm nhẹ,
Nơi hỗ trướng hiềm chi giá lạnh làm cho dung nhan thêm gầy.
Ngàn dặm rong ruổi cùng giấc mơ ngàn dặm,
Trùng trùng ly biệt với muôn trùng núi non,
Việc cung kiếm xưa nay vốn của người anh hùng,
Xong việc gian nan, bất giác cảm thấy lạnh lẽo).

Ba ông trước tiến theo lộ trình, cờ xí tung bay trước gió, vạn dặm chiêng trống vang động như sấm khắp ngàn núi, một ngày đã tới xã Tàm Xá, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc (xưa gọi là Vũ Ninh-NC) hội họp cùng đóng quân ở đó, đêm hôm ấy nghi lại tới đền thần, đến cuối canh ba, Sơn thánh hồn hồn mộng tưởng thấy một người đàn ông, mặc y phục rất đẹp mầu hồng, đeo đai ngọc, thân thể kỳ dị, dung nhan quái dị, đi từ bên đường tới tự xưng là thần bản cảnh (thần cai quản nơi đó-ND) tự là Long Linh, nói rằng:

Thần vốn là con cháu vua Hùng, nay thấy vua đi chinh phạt giặc Bắc, muốn tới để trợ giúp, nguyện xin âm phù, ngày sau xin được phối hưởng thờ tự.

Thần nhân nói xong thì biến mất. Sơn thánh tỉnh dậy biết là linh thần ứng trợ. Ngày hôm sau ba ông triệu các cụ bô lão ở châu Tàm Xá tới hỏi, mới biết rõ ràng câu chuyện. Các cụ tâu rằng:

Quả đúng châu của thần phụng thờ một vị húy là như thế. [8a] Thần rất linh thiêng.

Các cụ bô lão cùng nhân dân sợ hãi bèn làm lễ nguyện xin làm thần tử, ba ông liền đồng ý, bảo với các cụ rằng:

– Châu của các ngươi mà đối xử đầy đặn với ta, thì phải nhớ kỹ di mệnh, ức năm về sau ở châu của nhà ngươi phải phụng thờ tứ vị tam công, ta sẽ ban tặng thêm cho 15 hốt vàng, ngày sau mua thêm nhiều ruộng đất để lấy đó làm đồ cúng tế.

Ba ông định ngày mai sẽ cử bình, đi thẳng tới chân núi Sóc Sơn, bỗng thấy trùng trùng điệp điệp, tiếng hô vang bốn phía. Ba ông dẫn đầu binh sĩ đánh một trận, quân Thục thất bại bỏ chạy không biết đi chỗ nào. Ba ông đem binh trở về, tâu chiến thắng lên cho Duệ Vương, đến cửa khuyết bái tạ. Duệ Vương liền gia phong Tản Viên Sơn thánh làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần; Phong cho Cao Sơn làm chỉ huy sứ Tả tướng quân; Phong Quý Minh làm Chỉ huy sứ Hữu tướng quân. Vua làm thơ úy lạo rằng:

Quả nhân bất phục viễn phương nhân,
Nghĩa cử lao phiền quốc tướng quân,
Vạn lý tinh kỳ cần nãi lực,
Trùng thiên phong vũ đã chỉnh cân.
Quả nhiên thiên kiếm thôi man khấu,
Trực bả liên thành hiến quốc quân,
Thiên cổ dĩ tiền thiên cổ hậu,
Gia nhi tử dã quốc nhi thần.

(Quả nhân không hàng phục kẻ phương xa,
Việc nghĩa cử phải phiền đến các tướng quân trong nước.
Muôn dặm cờ xí, mọi người đều gắng sức,
Gió mưa ngàn trùng đánh vào khăn áo kẻ chinh phu.
Quả nhiên kiếm trời đã đánh lui kẻ giặc,
Lấy được các thành dâng hiến bậc quân vương.
Ngàn năm về trước, tới ngàn năm về sau,
Ở nhà là con, ở nước làm bề tôi).

Lại nói, từ đó thiên hạ thái bình, quốc gia vô sự. Mới được khoảng hơn 10 năm, vào ngày 15 tháng Giêng năm Mậu Thân, bỗng thấy vua Thục sai sứ mang 100 hốt vàng, 100 súc gấm vân rồng tới tiến lễ và dâng thư xin cầu hòa với Duệ Vương. Có lời rằng:

Thần là Thục, bộ chúa Ai Lao khâm mệnh chúa tể nhất phương, trước đây dám có hành động ngông cuồng, không làm hết phận lễ của kẻ bề tôi, [9a] kẻ nhỏ dám lăng mạt người lớn, quả nhiên tội thật lớn lắm. Nay quốc gia được vạn toàn thực nhờ ở sự độ lượng lớn lao của hoàng đế.

Ngày hôm đó Sơn thánh đang ở chính điện trong triều, Duệ Vương thấy thư như vậy nhân đó mang việc đó ra hỏi Sơn thánh. Sơn thánh tâu rằng:

Thục chúa vốn là tông phái của nhà Hùng. Trước đây có ngang ngược ngông cuồng, nhưng nay đã biết tiến biết thoái, lại xin cầu hòa. Bệ hạ và thần đều có phép thuật thần tiên, chẳng bằng một cuộc thanh nhàn, thân ở trên tam sinh, một bầu lãng uyển, năm tháng xuân dài, lầu rồng gác phượng chẳng bao giờ mất. Nơi chật hẹp trần gian, non xanh nước biếc, núi xanh thăm thẳm chẳng phụ người có trí đó sao; người quân tử cũng chẳng lấy đó làm vui đó sao. Thần xin bệ hạ hãy nghe theo kế đó.

Duệ Vương nói:

– Lời của khanh thật hay. Trẫm sẽ theo như kế của khanh.

Duệ Vương bèn sai sứ triệu Thục chúa tới, nhường ngôi vị cho Thục chúa. Thục chúa bái tạ. Duệ Vương [96] ban cho Thục chúa nỏ thần. Duệ Vương bèn về núi Nghĩa Lĩnh, cùng với Sơn thánh làm cuộc hóa sinh bất diệt. Một hôm Duệ Vương làm bài thơ như sau:

Tiên bồng động thảo thanh xuân cựu,
Vương bá cung đài lục dạng tân,
Hồi thủ thế gian đa thiều sự,
Dữ thiên hạ nhược quải phong trần.

(Bồng tiên, cỏ động, vẻ xuân xanh xưa,
Nơi cung điện đền đài ở triều đình màu xanh tươi mới.
Ngoảnh đầu nhìn khắp thế gian bao nhiêu việc,
Cùng với trời xanh, sao phải giương ngọn gió trần gian).

Làm thơ xong, Duệ Vương cùng Sơn thánh, Ngọc Hoa công chúa cùng ngày hôm đó đều bay lên trời, hóa sinh bất diệt. Thục chúa nhận ngôi vị, cảm công đức của ba người bèn xa giá tới núi Nghĩa Lĩnh, lập miếu điện để quốc gia phụng thờ.

Từ khi ba ông hóa, châu Tàm Xá bèn tu sửa miếu đền xong, đến khi Đinh Tiên Hoàng căn cứ vào đó hàng năm đến ngày 12 tháng 3, theo lệ bao phong để biểu dương sự linh thiêng của ba vị. Lại nói trước đó, Tiên Hoàng đi dẹp nạn 12 sứ quân, đến ở [10a] ngôi chùa đó bị quân vây ráp, nhưng 4 vị đã hiển linh âm phù trợ giúp. Từ đó bèn phong các thần theo lệ thường.

– Phong cho Tản Viên Sơn thánh là Tuấn Tịnh quốc trụ Đại vương.

– Phong cho Cao Sơn tá thánh là Phụ quốc linh ứng Đại vương.

– Phong cho Quý Minh tá thánh là Phụ quốc linh ứng Đại vương.

– Phong cho bản cảnh thành hoàng là Long Linh cương nghị Đại vương.

Vào những năm Thiên Phúc thời Lê Đại Hành (980-988), khảo khóa bách thần thấy các thần đều linh ứng bèn gia phong 4 vị:

– Phong cho Động Thiên chí lý, hộ quốc tỷ dân, phụ dực uy dũng, dương vũ hiển thánh, tối linh Đại vương.

– Phong cho Tả kiên thần phụ quốc hiển hựu Đại vương.

– Phong cho Hữu kiên thần phụ quốc hiển hựu Đại vương.

– Phong cho bản cảnh Uy vũ dực thánh doanh ngưng Đại vương.

Thời Trần Thái Tông (1225 – 1331), giặc Nguyên sang xâm lược, kinh thành bị vây hãm, Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo bách thần, các nơi đền miếu linh thiêng, 4 vị cũng đã hiển ứng, âm phù ngầm giúp. Sau khi bình được giặc Mã Nhi, Trần Thái Tông liền bao phong cho 4 vị mỹ tự là: Chiêm dung phụ vũ phổ hóa hậu trạch hộ quốc phù vận vũ dũng dược thánh anh linh Đại vương.

Đến thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa chống giặc Minh là Liễu Thăng, lấy được thiên hạ, Thái Tổ bèn gia phong [11a] mỹ tự là: Phổ tế cương nghị anh linh. Lại ban sắc cho xã Tàm Xá trùng tu miếu điện để phụng thờ.

Ngày sinh ngày hóa các tiết cùng chữ húy Tùng, Sùng, Hiển, ba chữ nhất thiết đều cấm, cho phép châu Tàm Xá phụng thờ.

Ngày sinh của thần là vào ngày mồng một tháng Giêng. Lễ chính.

Ngày sinh của thần là ngày mồng 6 tháng 8. Lễ chính.

Ngày hóa của thần là ngày 12 tháng 3 (các thần cùng hóa). Lễ chính.

Ngày thần hiện vào ngày mồng 6 tháng 11.

Ngày lành tháng mạnh xuân (tháng Giêng) năm Hồng Phúc thứ 1 triều ta (1572).

[116] Hàn lâm viện, Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn.

Ngày lành tháng trọng thu (tháng 8) năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740).

Nội các Bộ Lại tuân theo bản chính cũ sao chép lại.

Chú thích:

  1. Nguyên văn chép là “Mỵ nương”. Có lẽ là viết tắt của “Mỵ nương Ngọc Hoa công chúa”, như vẫn thấy ở các bản thần tích khi nói về hai cô con gái của vua Hùng Duệ Vương.

Nguồn: “Hùng Duệ Vương triều công thần Tứ vị Đại vương ngọc phả”, trích trong Thần tích xã Tàm Xá, ký hiệu AE.a2/29, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Optimized by Optimole